TRUONGNHUBAO.COM
  • Home
  • About Us
  • News
  • Tips
  • Laws
  • Audio Books
  • Livestreams
  • Love and Life
  • Published
  • Reviews
  • Contact us
  • Home
  • About Us
  • News
  • Tips
  • Laws
  • Audio Books
  • Livestreams
  • Love and Life
  • Published
  • Reviews
  • Contact us
Search by typing & pressing enter

YOUR CART

Mẹo làm hồ sơ

6/4/2025 0 Comments

June 04th, 2025

Picture
​Hỏi: Lãnh cha mẹ du lịch 5 năm cần gì?

Đáp: Có 3 điều kiện chính là:

1. Người con phải có thường trú hoặc quốc tịch;

2. Tổng thu nhập năm rồi của hộ gia đình (hai vợ chồng) từ 84.000 trở lên;

​3. Tài chính phải dồi dào chút vì phí di trú ~ 11.000 (hơi chát); hồ sơ lại chia làm hai giai đoạn (xin quyền bảo lãnh rồi mới có thể xin visa) nên phí luật sư cũng không rẻ nha.
0 Comments

3/11/2024 0 Comments

Mẹo làm form 888

Picture
Một khó khăn cho cả người Úc lẫn người Việt khi đứng trước form 888 (tờ khai nhân chứng hỗ trợ hồ sơ bạn đời) là họ không biết nói gì về mối quan hệ của người xin visa và người bảo lãnh. Dưới đây là một số gợi ý cho bạn để có một tờ khai xuất sắc:

1. Mức độ quen thân và hiểu rõ

Việc đầu tiên cần đề cập là quý vị quen biết với người xin visa và người bảo lãnh như thế nào và được bao lâu. Hãy nói về mức độ thường xuyên gặp gỡ và những việc quý vị thường làm với cặp đôi ấy khi hai bên gặp gỡ nhau. Quý vị có thể đề cập đến nơi ở của hai người, liệu họ đã sống chung chưa, đã đính hôn/kết hôn với nhau chưa.

2. Quan điểm và sở thích chung

Nêu bật bất kỳ quan điểm sống, mục tiêu, hoặc sở thích chung nào đóng góp đáng kể vào mối quan hệ vững chắc của họ. Điều này có thể bao gồm sự cống hiến chung của họ cho sức khỏe và thể dục, sự tham gia vào cộng đồng, hoặc sở thích chung đã giúp sâu đậm thêm mối liên kết của họ.

Hai người có cùng lối sống và sở thích thường tạo nên những cặp đôi đồng điệu, hoặc nếu tính cách họ đối lập nhau thì vẫn có thể bổ trợ cho nhau để hoà hợp với nhau.

3. Kiên trì trước gian nan

Đề cập đến cách mà cặp đôi vượt qua những thách thức hoặc mâu thuẫn. Khả năng giải quyết xung đột và hỗ trợ lẫn nhau qua những thời kỳ khó khăn có thể minh họa sức mạnh và sự trưởng thành của mối quan hệ.

4. Mức độ hòa nhập vào cuộc sống của nhau

Nói về cách người xin visa và người bảo lãnh đã hòa nhập vào gia đình và vòng tròn xã hội của nhau. Mối quan hệ của họ với bạn bè và người thân của nhau có thể cung cấp cái nhìn về sự cam kết và mạng lưới hỗ trợ rộng lớn hơn mà họ đã xây dựng cùng nhau.

Một cách nói thông dụng có thể là: từ chỗ là bạn thân của người bảo lãnh, tôi nay cũng đã trở thành bạn thân của người xin visa và tôi chứng kiến nhiều mối quan hệ khác cũng vậy, khi người dần trở thành thân nhân và kết bạn với gia đình và bạn bè của người kia.

5. Kế hoạch và khát vọng tương lai

Nếu được, bạn có thể chia sẻ về kế hoạch hoặc khát vọng tương lai của họ có thể nêu bật sự nghiêm túc và bản chất lâu dài của cam kết của họ với nhau. Điều này có thể bao gồm kế hoạch du lịch, mục tiêu nghề nghiệp, hoặc bất kỳ ước mơ chung nào họ đang hướng tới.

6. Sự phát triển cá nhân

Suy ngẫm về bất kỳ sự phát triển cá nhân nào bạn đã quan sát thấy ở người xin visa và/hoặc người bảo lãnh kể từ khi họ bắt đầu ở bên nhau. Mối quan hệ thúc đẩy sự phát triển cá nhân và hạnh phúc thường có nền tảng vững chắc từ tình yêu và sự tôn trọng lẫn nhau.

7. Những lúc hỗ trợ và quan tâm lẫn nhau

Nhớ lại những trường hợp cụ thể mà bạn đã thấy người xin visa và người bảo lãnh hỗ trợ lẫn nhau hoặc hành động quan tâm và để ý đến nhau. Những khoảnh khắc này có thể minh họa một cách sinh động mức độ quan tâm của hai người này dành cho nhau.

8. Ảnh hưởng đến người khác

Cuối cùng, bạn có thể muốn thảo luận về ảnh hưởng tích cực của mối quan hệ của họ đối với những người xung quanh. Một mối quan hệ yêu thương và chân thành không chỉ làm giàu cuộc sống của cặp đôi mà còn truyền cảm hứng tích cực cho cộng đồng và bạn bè, gia đình và người thân của họ.
0 Comments

12/1/2022 0 Comments

Vài câu hỏi thường gặp về hồ sơ bạn đời

Mấy năm trước, Trinh tìm đến với Trương Như Bảo Migration để hỏi về hồ sơ bạn đời. Lúc đó, Trinh đang là người ở lậu và bạn trai của em, Greg đang hoàn tất hồ sơ định cư diện tay nghề. Mối quan hệ của Greg và Trinh tuy vẫn chỉ là bạn trai bạn gái nhưng hai em khá nghiêm túc về việc chung sống về sau.

Trinh lo ngại rằng nếu Greg đính kèm Trinh trong hồ sơ xin thường trú, lịch sử ở lậu của Trinh có thể làm hồ sơ Greg xấu đi. Trinh quyết định sẽ để Greg vào thường trú trước nhưng em thắc mắc là liệu Greg có phải khai báo về “mối quan hệ” của hai em với Bộ Di trú hay không.

Bạn trai bạn gái hay de facto partners ?
-------------------------------------

Bản thân tôi không có chuyên môn về loại visa mà Greg đang muốn nộp, nhưng câu hỏi này của Trinh thì tôi biết. Tôi giải thích rằng sự khác nhau giữa khái niệm “de facto partner” và “boyfriend - girlfriend” trong Di trú là rất mơ hồ. Cứ như hai người đã có quan hệ thân mật, ở cùng nhau tại một địa chỉ, thậm chí có con cùng nhau mà vẫn không nhất thiết là de facto partner của nhau thì biết lấy giới hạn nào để phân biệt?

- “Nếu hai em xem mối quan hệ của mình là de facto partner, Greg phải khai báo với Di trú là em đang trong một mối quan hệ de facto với Trinh.” - tôi phân tích - “Còn như hai em nghĩ hiện tại chỉ là bạn trai bạn gái, trong đơn xin visa, khả năng là không có câu hỏi nào để Greg kê khai bạn gái của mình. Vấn đề nếu có là sau này khi hai em quyết định tiến hành hồ sơ bạn đời, hai em phải nhớ lấy lời khai ngày hôm nay. Tránh tự mình tạo ra mâu thuẫn trong lời khai.”

Cưới hay không cưới cũng là vấn đề
-----------------------------------

Ít lâu sau khi Greg vào thường trú, em muốn tiến hành hồ sơ bảo lãnh Trinh. Lúc bấy giờ hai em lại thắc mắc là mình có nhất thiết phải ký hôn thú hay không, và liệu một hồ sơ có hôn thú có gọi là nghiêm túc hơn một hồ sơ không có hôn thú?
Tính tới thời điểm nộp hồ sơ, thời gian của Trinh và Greg sống chung tính ra chỉ mới vài ba tháng. Từ cộng đồng mạng, Greg được tư vấn là hai em phải kết hôn vì hồ sơ de facto có yêu cầu phải sống chung 12 tháng.

Vấn đề là gia đình Greg ở tận bên Anh, còn người nhà Trinh ở hết ở Việt Nam, hai em lo ngại rằng đám cưới nếu tổ chức ở Úc thì sẽ không có thân nhân nào đến dự.

Greg cũng thú thật là tình hình tài chính hiện tại của hai em không đủ sức để làm một đám cưới Anh - Việt, chưa kể Ngọc sẽ không rời khỏi Úc được vì hồ sơ người ở lậu sẽ không lấy được visa chờ loại A - B để đi ra - đi vào nước Úc.

Tôi giải thích với Greg rằng hồ sơ de facto đúng là có quy định 12 tháng, nhưng hai người không nhất thiết phải ở đủ 12 tháng mới có thể nộp được.

Chưa kể, trong kinh nghiệm của tôi, một đám cưới sơ sài là lý do rất thường gặp trong quyết định từ chối hồ sơ của Bộ Di trú vì họ nghĩ mình đã không nghiêm túc.

Hạn chế lớn nhất của hồ sơ ở lậu - de facto theo tôi là việc người xin visa sẽ không có medicare trong lúc chờ kết quả hồ sơ, trừ khi sau khi nộp hồ sơ, họ thành công xin bỏ điều kiện No Work để được đi làm.

Cuối cùng Trinh và Greg quyết định sẽ nộp hồ sơ de facto thay vì ký hôn thú.

Hành trình của Trinh cùng Trương Như Bảo Migration trải qua chính xác 2 năm lẽ 1 ngày để lấy cho em cả tạm trú và thường trú.
​
Hôm nay Melbourne có mưa đá giữa mùa hè mà kết quả như này thì ấm quá còn gì
0 Comments

12/1/2022 0 Comments

Quốc tịch cho trẻ em ở lậu sinh ra ở Úc

Picture
Dạo gần đây người viết nhận được khá nhiều câu hỏi liên quan đến câu hỏi liệu cha mẹ ở lậu, sinh con trong nước Úc có thể xin quốc tịch cho bé hay không. Đây không phải là một quy định mới, nhưng có vẻ như không phải ai cũng đã biết, nhất là trong cộng đồng người Việt ở Úc.

Điều 12(1)(a) của luật quốc tịch Úc quy định rằng con của thường trú nhân hoặc công dân Úc sinh ra ở trong nước Úc thì sẽ lập tức trở thành công dân Úc.

Điều 12(1)(b) quy định rằng mọi trẻ em sinh ra ở Úc sẽ trở thành công dân Úc nếu đứa trẻ ấy thường trú ở Úc trong 10 năm đầu đời của mình.

Câu hỏi mà người viết thường xuyên nhận được là: vậy nếu đứa trẻ là con của người ở lậu thì có lấy được quốc tịch sau 10 năm ở Úc hay không?

Câu trả lời là được. Luật quốc tịch hiện tại không quy định trẻ phải có visa nào đó mới lấy được quốc tịch. Thay vào đó, trẻ chỉ cần thường trú ở Úc trong 10 năm đầu đời mà thôi.

Thế nào là thường trú ở Úc trong 10 năm đầu đời?
--------------------------------------------------

Điều 3 của luật quốc tịch có đưa ra định nghĩa về việc thường trú ở một quốc gia.

Đầu tiên, đứa trẻ ấy phải có một “tổ ấm” (home) ở quốc gia đó. Theo diễn dịch rộng hơn của người viết, đứa bé ấy phải có chỗ ở tương đối ổn định (thay vì vô gia cư – homeless) và đứa trẻ ấy coi nước Úc là nhà của mình.

Lấy ví dụ như con của một nhân viên lãnh sự quán nào đó sinh ra và lớn lên ở nước Úc, nhưng quê nhà thực sự của đứa trẻ ấy rõ ràng là quốc gia gốc của nhân viên lãnh sự ấy, vậy nên trong trường hợp này đứa bé dù có giành trọn 10 năm đầu đời ở Úc cũng không tính là thường trú ở Úc.

Một yêu cầu khác quy định ở điều 3 luật quốc tịch về việc thường trú ở Úc là tính luôn cả các quãng thời gian gián đoạn tạm thời khi đứa bé ấy vắng mặt khỏi Úc. Hiện không có quy định rõ ràng về quãng thời gian gián đoạn này tối đa là bao lâu: 1 năm, 2 năm hay 5 năm hay lâu hơn thế nữa? Theo cách hiểu của người viết, quy định này sẽ áp dụng theo từng trường hợp cụ thể.

Nếu trẻ có vấn đề về sức khoẻ thì thế nào?
------------------------------------------

Gần đây, một đại diện di trú đăng trên diễn đàn của cộng đồng đại diện di trú câu hỏi rằng nếu một đứa trẻ sinh ra ở Úc – nay đã 10 tuổi và bị autism thì có vào quốc tịch được không?

Cũng như con của thường trú nhân / công dân Úc sinh ra tại Úc, đứa trẻ sinh ra ở Úc và thường trú ở Úc trong 10 năm đầu đời của mình sẽ trở thành công dân Úc dù cho trẻ có gặp vấn đề về sức khoẻ.

Nói một cách khác, không có bất cứ yêu cầu sức khoẻ nào đối với trẻ sinh ra ở Úc để có thể lấy quốc tịch Úc.

Một hành trình gian nan, không đáng khích lệ
---------------------------------------------

Đọc những dòng này, chắc sẽ có người trách người viết cổ xuý người Việt mình ở lậu. Kỳ thực nếu ai đó chưa ở vào vị trí này, người viết khuyên các anh chị cân nhắc kỹ trước khi chọn đi con đường gian nan và rủi ro này.

Gian nan là vì con cái của Anh Chị sẽ khó mà đi học, chủng ngừa và sinh hoạt như các bạn bè của cháu trong 10 năm đầu đời. Gian nan nữa là sau khi lấy quốc tịch cho bé, việc triển khai hồ sơ con cái lãnh cha mẹ cũng không phải là dễ dàng.

Rủi ro là vì những quy định nói trên có thể thay đổi trong tương lai. Sẽ không gì tai hoạ hơn là mình đã bỏ ra quá nhiều trong ngần ấy năm nhưng khi chưa kịp gặt hái thành quả thì nước Úc lại đổi luật.

Mục đích duy nhất của người viết khi viết lên những dòng này là phòng khi ai đó có con sinh ra trong nước Úc và đã 10 tuổi, họ sẽ biết là có thể xin quốc tịch cho bé.
​
Trong trường hợp khách hàng dưới đây của người viết, họ đã biết muộn 4 năm, nên lẽ ra cháu có thể lấy quốc tịch từ 2018, cháu vẫn phải sống như một người ở lậu trong 4 năm qua, mặc dù đúng ra cháu đã có thể được hưởng những quyền lợi của một công dân Úc từ 4 năm trước.
0 Comments

7/18/2022 0 Comments

Visa 300 checklist

Picture
Thời gian gần đây, người viết đôi lần nhận được câu hỏi là một bộ hồ sơ đính hôn thường cần có những bằng chứng gì. Thực sự là từ ngày đầu học nghề, người viết đã được cảnh báo về sự nguy hiểm của cách làm việc dập khuôn. Người viết lưu ý là việc sử dụng kiến thức chuyên sâu về di trú mà không được giám sát kĩ lưỡng của người đại diện, có khi chẳng khác gì tự ý dùng thuốc liều mạnh mà không có hướng dẫn của bác sĩ: hậu quả có thể sẽ vô cùng nguy hại.

Tuy nhiên, để chia sẻ một vài kiến thức phổ thông cho bà con tiện tham khảo, người viết sẽ thảo ra đây một vài yêu cầu của hồ sơ đính hôn (tiểu loại 300) và các bằng chứng thường gặp. Người viết khuyến cáo là những thông tin dưới đây không thể sử dụng để thay thế những tư vấn của một người đại diện có chuyên môn.

1. Các mẫu đơn
---------------

- Form 47SP (Internet).
Mẫu đơn này có thể tìm thấy trong ImmiAccount. Để nộp được hồ sơ bạn đời, quý vị phải mở một tài khoảng với Bộ Nội vụ Úc gọi là ImmiAccount. Mọi trao đổi sau này sẽ thông qua ImmiAccount.

- Form 40SP.
Đây là đơn của người bảo lãnh có tên đầy đủ là “Sponsorship for a partner to migrate to Australia”. Đơn này có hai dạng: Form 40SP (Internet) có thể tìm thấy ở ImmiAccount hoặc form 40SP giấy có thể Google để tải về. Thông thường người viết chỉ dùng form giấy nếu form 40SP (internet) bị lỗi và sẽ vẫn làm lại một form 40SP internet sau khi hệ thống đã hết lỗi.

- Form 47A.
Nếu quý vị có đính kèm phụ đơn trên 18 tuổi (ví dụ như con phụ thuộc đi theo ba hoặc mẹ) quý vị sẽ cần cung cấp form 47A và các bằng chứng chứng minh người con đó phụ thuộc vào mình về phương diện tài chính và các mặt khác. Các bằng chứng chứng minh con phụ thuộc đã được trình bày trong một bài viết trước đây.

2. Lệ phí
---------

Lệ phí hiện tại cho đương đơn chính của hồ sơ 300 là $8,085, mỗi phụ đơn trên 18 tuổi là sẽ cộng thêm $4,045 và mỗi phụ đơn dưới 18 tuổi sẽ cộng thêm $2,025. Người viết lưu ý là Bộ Nội vụ luôn tính thêm 5% Internet surcharge nên lệ phí thực đóng thường cao hơn vài trăm đô.

3. Dữ liệu sinh trắc học (Biometrics)
-----------------------------------

Ngày trước, trong mỗi hồ sơ thường đính kèm một ảnh passport. Tuy nhiên, thời gian trở lại đây người xin visa ở Việt Nam sẽ phải làm hẹn và đến văn phòng VFS để cơ quan này thu thập dữ liệu sinh trắc học của đương đơn và gửi cho Bộ Nội vụ. Sau khi nộp hồ sơ, người xin visa sẽ nhận được email yêu cầu làm hẹn thu thập dữ liệu sinh trắc học.

4. Giấy tờ tuỳ thân
-------------------

Để Bộ Nội vụ biết được người xin visa là ai và người bảo lãnh là ai, hồ sơ phải cung cấp các giấy tờ tuỳ thân, bao gồm:
- passport,
- giấy khai sinh,
- căn cước công dân,
- sổ hộ khẩu (nếu có),
- bằng lái xe,
- bằng chứng người bảo lãnh là thường trú nhân hoặc công dân Úc...

Các văn bản bằng tiếng Việt cần phải được dịch ra tiếng Anh. Các văn bản bằng tiếng Anh hoặc song ngữ có thể scan màu rõ nét và upload lên ImmiAccount.

5. Tiền án tiền sự
-----------------

- Australian Police Clearance
Người bảo lãnh và những người xin visa từng đến Úc sẽ phải cung cấp Australian Police Clearance. Khi nộp đơn xin giấy cảnh sát Úc, nhớ phải xin mẫu theo code 33, chuyên dùng cho Di trú vì loại này là Complete Disclosure.

-Lí lịch tư pháp số 2
Người xin visa 300 sẽ phải nộp lí lịch tư pháp số 2 ở Việt Nam để chứng minh mình không có án tích. Thỉnh thoảng Bộ Nội vụ cũng sẽ yêu cầu người bảo lãnh cung cấp tờ LLTP2 này.

- Các quốc gia khác
Nếu người bảo lãnh và người xin visa từng cư trú ở một quốc gia nào đó từ 12 tháng trở lên (dù là trong một chuyến hoặc nhiều chuyến cộng lại) Bộ Nội vụ có thể sẽ yêu cầu quý vị phải xin giấy cảnh sát hoặc toà án chính quyền sở tại xác nhận quý vị không có án tích.

Thông thường giấy cảnh sát có hạn 12 tháng kể từ ngày cấp.

6. Khám sức khoẻ
------------------

Sau khi nộp hồ sơ, người xin visa có thể tự lên lịch khám sức khoẻ. Link khám sức khoẻ có thể tìm thấy trong hồ sơ ở ImmiAccount. Thông thường kết quả khám sức khoẻ có giá trị trong vòng 18 tháng.

7. Giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân
----------------------------------------

Hồ sơ đính hôn là một cam kết rằng người xin visa sẽ kết hôn với người bảo lãnh sau khi vào Úc. Bộ Nội vụ thường yêu cầu người xin visa và người bảo lãnh cung cấp những giấy tờ chứng minh mình có thể kết hôn mà không có gì cản trở. Dựa vào tình trạng hôn nhân, các giấy tờ này chia làm 3 trường hợp:

- Độc thân.
Người độc thân là người chưa từng kết hôn và chưa từng có một mối quan hệ nào khác. Quý vị có thể xin giấy chứng nhận độc thân (Single Certificate).

- Đã li thân.
Trường hợp quý vị từng chung sống như vợ chồng không hôn thú với người một người và có con với cũ, quý vị không phải là người độc thân mà là người đã li thân (separated). Quý vị có thể xin giấy chứng nhận hiện không kết hôn (No record of marriage).

- Đã li hôn.
Nếu quý vị từng kết hôn, quý vị phải có giấy ly hôn. Nếu quý vị đã kết hôn và không thể cung cấp giấy ly hôn, Bộ Nội vụ có thể đi đến kết luận rằng cuộc hôn nhân cũ của quý vị chưa kết thúc, do đó quý vị hiện không thể kết hôn với người kia. Đây có thể trở thành cơ sở để Lãnh sự ra quyết định từ chối. Thỉnh thoảng, Bộ Nội vụ sẽ đòi hỏi cả giấy ly hôn và giấy chứng nhận hiện không kết hôn (No record of marriage) đối với người đã li hôn.

8. Bằng chứng của mối quan hệ
--------------------------------

Theo luật, để xác định một mối quan hệ của người xin visa là thành thật hay không, Bộ Nội vụ sẽ đánh giá theo 4 chỉ tiêu: phương diện tài chính, phương diện xã hội, bản chất cuộc sống chung và bản chất sự gắn bó của mối quan hệ.

a. Phương diện tài chính
--------------------------

Câu hỏi chủ đạo của phương diện tài chính là liệu người xin visa và người bảo lãnh có góp gạo thổi cơm chung không? Hay tiền ai người ấy tiêu?

- Bằng chứng chuyển tiền.
Đối với người xin visa đính hôn, vì hai người thường sống ở hai quốc gia, các bằng chứng tài chính thường khá hạn chế. Người viết từng thấy người bảo lãnh mở tài khoảng ANZ ở Úc và chuyển tiền vào đó hàng tháng để người xin visa rút ra mỗi tháng ở VN. Một số gia đình khác sử dụng dịch vụ chuyển tiền từ Úc về Vn và giữ lại biên nhận để cung cấp cho di trú.

- Bản tường trình (phần khai về phương diện tài chính)
Trong bản tường trình của hồ sơ 300, người viết thỉnh thoảng thấy đề cập: mỗi chuyến đi chơi chung, ai bỏ tiền mua vé máy bay, ai trả tiền khách sạn và ăn tiêu… Trong đám cưới hoặc lễ đính hôn: ai bỏ tiền ra, hoặc đóng góp như thế nào…

Thỉnh thoảng người viết cũng thấy người xin visa nói về thu nhập và tài chính của người bảo lãnh. Nếu quý vị không đề cập, lãnh sự có thể hỏi vềg chủ đề này trong phỏng vấn. Lãnh sự thường sẽ không thấy thuyết phục nếu quý vị không biết gì về tài chính của đối phương dù người xin visa có thể chưa một lần đến Úc.

b. Phương diện xã hội
-----------------------
Câu hỏi chủ đạo của phương diện xã hội là người xin visa và người bảo lãnh có công bố mối quan hệ của họ với gia đình, bạn bè, chính quyền và người xung quanh hay không? Họ có xuất hiện ở các nơi công cộng như một cặp đôi hay không?

- Hình ảnh.
Trong hồ sơ đính hôn, hình ảnh là loại bằng chứng quan trọng vì trăm nghe không bằng một thấy. Thử nghĩ nếu một hồ sơ cứ lặp đi lặp lại là chúng tôi rất yêu thương nhau mà hình ảnh cho thấy họ rất đơ và thiếu gần gũi khi đứng cạnh nhau thì chắc hẳn lãnh sự sẽ không khỏi nghi ngờ. Các hình ảnh thường thấy trong hồ sơ đính hôn bao gồm hình ảnh hai người gọi điện cho nhau (screenshot), đi chơi cùng nhau mỗi khi người bảo lãnh về Việt Nam, đám cưới/ đám hỏi và các hình ảnh người này xuất hiện cùng với gia đình người kia.

- một vài bằng chứng khác
Ngoài ra, hồ sơ cũng nên cung cấp các tờ khai nhân chứng (thường gọi là form 888); vé máy bay và boarding passes (chứng minh hai người bay đi bay về cùng nhau) hay các thẻ thành viên của các tổ chức (cùng đi lễ nhà thờ, thường xuyên đến một ngôi chùa, fan club, thậm chỉ cả hội viên của hội người yêu nhạc, mô tô phân khối lớn…) để chứng minh những sinh hoạt chung.

- Bản tường trình (phần khai về phương diện xã hội).
Quý vị có thể cung cấp lời khai về các chuyến đi chơi cùng nhau, lần đầu đến nhà người kia và mối quan hệ của quý vị với thân nhân, bạn bè của người kia. Việc người xin visa có hiểu biết sâu sắc về gia đình và bạn bè người bảo lãnh (và ngược lại) là bằng chứng rất thuyết phục của hồ sơ. Ngược lại nếu người xin visa hoàn toàn không biết gì về gia đình bên kia, Lãnh sự rất có thể sẽ cần một lời giải thích.

c. Thu xếp hộ gia đình
------------------------
Câu hỏi chủ đạo của phương diện này là những thu xếp về cuộc sống chung khi hai người ở cùng nhau. Đối với hồ sơ 300, hai người thường sống ở hai quốc gia nên bằng chứng sống chung thường rất hạn chế.

- Bản tường trình (phần khai về cuộc sống chung).
Nếu quý vị có chăm sóc con chung – con riêng hoặc các thân nhân của người kia, đừng quên đề cập trong bản tường trình mối quan hệ. Ngoài ra, người viết cũng thường thấy trong bản tường trình xuất hiện nội dung: một ngày điển hình khi chúng tôi ở cùng nhau: ai sẽ nấu ăn, giặt đồ, chùi dọn nhà cửa, phân chia việc nhà… các hoạt động trong tuần và cuối tuần…

d. Mối ràng buộc của mối quan hệ
-----------------------------------

Câu hỏi chủ đạo của phương diện này mối dây liên kết trong mối quan hệ của hai người mạnh yếu thế nào? Hai người có bao giờ hỗ trợ nhau về mặt tinh thần/tình cảm hay không?

- Lịch sử nhắn tin gọi điện
Những bằng chứng liên lạc như lịch sử nhắn tin và gọi điện sẽ phản ánh họ có thường xuyên liên lạc với nhau khi xa cách hay không? Người viết từng nhận hơn 9000 ảnh chụp màn hình về lịch sử nhắn tin qua lại của khách. Sau khi chỉnh sửa và cung cấp cho Lãnh sự được hơn 3500 hình, người viết đưa hẳn luôn Google Account và mật khẩu để nhân viên di trú tự vào xem nếu muốn với tin nhắn: “Người viết chỉ có thể cung cấp hơn 3500 screenshot trong tổng số hơn 9000 screenshot. Số còn lại Bộ có thể tự vào xem”.

- Bản tường trình (phần khai về mối quan hệ).
Ngoài bằng chứng liên lạc trong xa cách, bản tường trình mối quan hệ của quý vị nên đề cập đến lịch sử phát triển của mối quan hệ. Đừng quên đề cập tại sao quý vị đã lựa chọn đối phương và quý vị có những kế hoạch gì trong tương lai sống chung sắp tới trên nước Úc, nếu được cấp visa.

9. Giấy báo hôn
---------------

Trong hồ sơ đính hôn, người bảo lãnh thường phải liên lạc một người chứng hôn (Marriage Celebrant) để người này xuất giấy báo hôn. Giấy báo hôn có tên gọi chính thức là Notice of Intended Marriage nên thường được gọi là NOIM. Về cơ bản, giấy NOIM là xác nhận của một người chứng hôn rằng họ được thông báo về kế hoạch kết hôn của người xin visa và người bảo lãnh vào một ngày dự kiến nào đó và xác nhận đã lên lịch để ngày đó giờ đó cử hành hôn lễ cho người xin visa và người bảo lãnh.

Trong kinh nghiệm của người viết, ngày kết hôn dự kiến nên lên lịch trước 12 – 18 tháng tránh tình trạng ngày dự kiến kết hôn đã qua mà visa chưa được cấp. Trong tình huống ấy, người bảo lãnh cần xin một tờ NOIM mới để bổ sung hồ sơ. Ngày dự kiến kết hôn là một câu hỏi thường gặp trong phỏng vấn nên quí vị nên chọn ngày dễ nhớ như sinh nhật của người xin visa/ người bảo lãnh hoặc một ngày đặc biệt nào đó như 26/01, 14/02, 08/03…

Sau khi được cấp visa để đến Úc, nếu quý vị thay đổi kế hoạch và kết hôn sớm hơn hay muộn hơn ngày dự kiến ban đầu, thông thường Bộ Nội vụ sẽ không có vấn đề gì với sự thay đổi đó.

10. Các bằng chứng khác
-------------------------

Như đã nói ở đầu bài viết, mỗi hồ sơ sẽ có một tình tiết đặc biệt riêng. Nếu hồ sơ của quý vị có gì đó đặc biệt đáng chú ý, hãy cung cấp bằng chứng cho Lãnh sự. Những bằng chứng từ giấy xác nhận sẩy thai, tình trạng sức khoẻ yếu kém của người bảo lãnh, báo cáo bác sĩ tâm lý hay di chúc, thư hỗ trợ của dân biểu hoặc các tổ chức dân sự Úc, đến cả đơn xin lệnh án bảo vệ của Toà (Intervention Order) chống lại người vợ/chồng cũ…

Các loại bằng chứng này có thể không trực tiếp chứng minh mối quan hệ của quý vị là thành thật hay không thành thật, nhưng nó sẽ hoàn thiện bức tranh, giúp cho nhân viên lãnh sự hiểu được con đường mà người xin visa và người bảo lãnh đã trải qua cho đến khi họ tìm được nhau.

Nghề di trú có thể là những đống giấy tờ khô khan của luật, nhưng nó cũng có thể là những câu chuyện cảm động, những tình yêu nồng nàn, hay những phận đời thấm đẫm nước mắt đến mức nhân viên lãnh sự cảm thấy họ phải cấp visa để đem đến một kết thúc có hậu cho người xin visa và người bảo lãnh.

Trong Di trú, việc chuẩn bị kỹ lưỡng và cách trình bày khôn khéo là chìa khoá để tạo ra sự khác biệt.
0 Comments

2/22/2022 0 Comments

Hồ sơ cha mẹ bảo lãnh con

Picture
Child visa: ai đi qua - ai kẹt lại?
-----------------------------
Cũng giống như Parent visa, Child visa được xem là loại hồ sơ đơn giản hơn rất nhiều so với hồ sơ Partner visa. Bởi không giống như mối quan hệ phức tạp thật giả giữa vợ - chồng, việc xác định mối quan hệ cha mẹ và con cái giữa người xin visa và người bảo lãnh thường đơn giản hơn rất nhiều.

Ấy vậy mà không ít văn phòng di trú lại làm việc tắc trách đến mức để rớt hồ sơ khách. Bài viết này sẽ phân tích các lỗi thường làm rớt hồ sơ Child visa - hồ sơ cha mẹ bảo lãnh con cái.

Trong kinh nghiệm của người viết, hơn 90% những hồ sơ con cái bị từ chối đều do người con không thoả mãn một yêu cầu gần như là duy nhất của hồ sơ, đó là: “người xin visa là con phụ thuộc của người bảo lãnh”. Trong yêu cầu này có hai nội dung chính: người xin visa là “con phụ thuộc hay con độc lập?” – và người xin visa “phụ thuộc ba hay phụ thuộc mẹ?”

Sau đây là một vài kiến thức cơ bản mà một văn phòng di trú nào cũng nên phổ biến cho khách của họ trước khi làm hồ sơ:

1. Con phụ thuộc là con dưới 18 tuổi
------------------------------------
Đây là loại hồ sơ đơn giản nhất. Con dưới 18 tuổi thì hiển nhiên thoả mãn yêu cầu con phụ thuộc. Khó khăn duy nhất của hồ sơ này thường là ở khâu giấy tờ: liệu xem người cha mẹ kia có chịu ký giấy đồng thuận để con mình được đi Úc hay không? Nếu người kia không đồng ý cho con đi định cư nước ngoài, hồ sơ chỉ thực hiện được sau khi người bảo lãnh nhận được quyết định của Toà án hoặc chứng nhận của chính quyền địa phương rằng họ có toàn quyền nuôi con và đem con đi nước ngoài mà không cần sự đồng thuận của bất kì ai khác.

2. Con trên 18 tuổi nhưng chưa có bạn đời
------------------------------------------
Trong trường hợp người xin visa đã trên 18 tuổi, họ sẽ không phải là con phụ thuộc nếu đã có bạn đời. Khái niệm bạn đời bao gồm và vợ chồng và người sống chung không hôn thú. Trong những trường hợp đặc biệt, con phụ thuộc có khi có con nhưng lại không hình thành mối quan hệ nào với cha/ mẹ của con mình. Đây là một tình tiết phức tạp phải chuẩn bị trước khi nộp hồ sơ.

3. Con trên 18 tuổi nhưng chưa đi làm
--------------------------------------
Một yêu cầu khác đối với người xin visa trên 18 tuổi là họ chưa đi làm toàn thời gian bao giờ kể từ sau sinh nhật thứ 18 của họ. Nếu người xin visa đi làm toàn thời gian từ năm 15 tuổi đến 17 tuổi, nhưng 1 tháng trước khi bước sang tuổi 18, họ nghỉ làm thì vẫn được.

Có một vấn đề nữa liên quan đến việc đi làm là thu nhập. Nếu người xin visa có thể tự nuôi sống mình thì sẽ bị xem là con độc lập. Lại nữa, nếu người xin visa có thể tự chu cấp chi chi phí sinh hoạt tối thiểu của mình từ 50% trở lên thì coi như không phải là con phụ thuộc.

“Chi phí sinh hoạt tối thiểu” có thể hiểu là “tiền phòng và tiền ăn” mỗi tháng của một người bình thường trong xã hội nơi người đó sống. Giả sử như chi phí sinh hoạt trung bình ở một tỉnh thành nào đó ở Việt Nam là 800.000 tiền phòng và 800.000 tiền ăn một tháng, thì người nào ở tỉnh thành ấy có thu nhập trên 900.000 sẽ không phải là con phụ thuộc. Theo luật, người ấy phụ thuộc vào bản thân mình nhiều hơn phụ thuộc bất cứ ai khác.

Chính yêu cầu này của luật làm cho những hồ sơ mà con cái trên 18 tuổi ở lì trong nhà lại tốt hơn rất nhiều những người con hoạt bát, biết ra đời để kiếm sống. Trẻ ù lì sẽ lấy visa, còn trẻ hoạt bát sẽ ở lại Việt Nam là do logic ấy.

4. Con còn đi học toàn thời gian
--------------------------------
Một yêu cầu nữa đối với người xin visa trên 18 tuổi là họ vẫn liên tục đi học toàn thời gian kể từ sau sinh nhật thứ 18 của họ. Nếu một người xin visa nghỉ học năm 15 tuổi, và bắt đầu đi học lại trước sinh nhật thứ 18 của mình, người ấy sẽ thoả mãn yêu cầu đi học.

Một bằng cấp cụ thể
--------------------
Khoá học người xin visa theo học phải là khoá học cho ra một bằng cấp cụ thể. Theo luật, học tiếng Anh văn bằng A,B,C hoặc luyện IELTS không phải là bằng cấp cụ thể. Đặc biệt ôn thi đại học không được xem là một khoá học thoả mãn yêu cầu. Tương tự, các khoá học nghề ở các cơ sở kinh doanh (ví dụ nối mi) sẽ không đạt tiểu chuẩn. Vậy nên nghị lí sau sẽ xãy ra theo luật:

Phúc là một học sinh giỏi. Sau 12 năm học tập với thành tích xuất sắc, em trúng tuyển ngay năm đầu vào đại học ngoại thương. Năm trước, Phúc đang học năm cuối và nộp hồ sơ xin child visa. Sau khi hồ sơ được nộp, 8 tháng trước, Phúc tốt nghiệp với bằng đỏ. Em hiện ở nhà đợi visa nên chưa đi kiếm việc. Do Phúc đã nghỉ ở nhà hơn 6 tháng, theo luật hồ sơ của Phúc sẽ bị từ chối.

Trung là một học sinh khá. Tiếc là sau kì thi cấp 3, Trung không đậu được trường đại học ưng ý. Trung có trúng tuyển một khoá cao đẳng nhưng không muốn đi học. Sau khi tốt nghiệp cấp 3 năm 18 tuổi, Trung ở nhà ôn thi 1 năm rồi thi đậu vào học viện tài chính quốc gia, nơi em hiện đang theo học. Đáng tiếc, khoá luyện thi đại học của Trung khô phải là một khoá học đạt yêu cầu của Di trú. Kết quả là, vì trung đã ở nhà quá 6 tháng sau khi bước qua tuổi 18, hồ sơ của Trung sẽ bị từ chối và em sẽ ở Việt Nam.

Nam là học sinh cá biệt, Nam đi học 5 năm mới xong cấp 3 vì lưu ban. Sau khi tốt nghiệp cấp 3 khi đã 20 tuổi, do học lực quá kém, Nam chỉ xin được một lớp trung cấp học nghề. Do thành tích khác người, Nam liên tục lưu bang và mất thêm 3 năm vẫn không thể hoàn thành bằng trung cấp. Tuy nhiên vì Nam liên tục đi học (dù thi rớt) và bằng trung cấp ấy được xem là bằng cấp cụ thể, lịch học là toàn thời gian nên Nam sẽ lấy visa đi Úc.

5. Con chưa từng nghỉ học tới 6 tháng
---------------------------------------
Thời gian nghỉ học tối đa mà luật di trú cho phép là dưới 6 tháng và bất cứ người xin visa nào nghỉ học từ 6 tháng trở lên kể từ sinh nhật thứ 18 của mình sẽ không thoả mãn yêu cầu xin visa.

Người viết hiện đang quan tâm đến câu hỏi: nếu trong thời gian COVID, người xin visa nghỉ học quá 6 tháng vì lí do bất khả kháng là “tất cả trường học đều đóng cửa” thì sẽ như thế nào. Người viết sẽ theo dõi các án lệnh toà trong thời gian sắp tới và cập nhật đến bạn đọc trong các bài viết sau.

6. Phụ thuộc ba hay phụ thuộc mẹ?
-----------------------------------
Một người con chưa có bạn đời, không đi làm và vẫn đang đi học vẫn có thể bị từ chối hồ sơ nếu bằng chứng cho thấy họ là con phụ thuộc nhưng họ phụ thuộc người cha mẹ ở Việt Nam nhiều hơn người cha mẹ ở Úc.

Khi xem xét hồ sơ xin định cư của quý vị, Bộ Nội vụ và Toà Kháng cáo sẽ quan tâm đến những thông tin sau:

- Nếu ba mẹ người xin visa đã li hôn, trên quyết định li hôn ai có quyền nuôi con?

- Sổ hộ khẩu của người xin visa (nếu có) là ở cùng cha hay mẹ?

- Số tiền chu cấp mỗi tháng người xin visa nhận từ cha mình là bao nhiêu – từ mẹ mình là bao nhiêu?

- Người xin visa đã sử dụng tiền chu cấp từ cha để trả tiền gì, và tiền cuả mẹ để trả tiền gì?

Lời kết
------
Như đã nói, người viết cho rằng hồ sơ Child visa thuộc loại hồ sơ dễ. Chỉ là việc khó ở đời đều xuất phát từ chuyện dễ. Nếu người ta chuẩn bị kĩ hồ sơ từ bước ban đầu, các bước sau của hồ sơ tự khắc sẽ đi theo thứ tự. Ngược lại nếu vì cẩu thả mà lời khai ban đầu cấu thành thông tin bất lợi cho hồ sơ, việc thay đổi lời khai về sau sẽ vô cùng gian nan, hồ sơ ấy tự khắc thành ra phức tạp.
0 Comments

2/19/2022 0 Comments

Hướng dẫn làm tường trình mối quan hệ

Picture
Trong hồ sơ bạn đời, một vấn đề làm đau đầu bao đôi tình nhân trẻ là câu hỏi: nên viết gì trong bản tường trình cho hay?

Một thông lệ xấu của không ít văn phòng di trú là cung cấp tờ khai dài tầm 1 trang: sơ lược vài mốc ngày tháng chính của hồ sơ: gặp nhau, yêu nhau, cầu hôn, ký giấy, xin visa, và kết thúc ở thời điểm nộp hồ sơ. Cách làm này có ưu điểm là khách sẽ không phải nhớ quá nhiều khi đối diện phỏng vấn, nhưng có một hạn chế rất lớn cách làm này sẽ làm cho lời khai của hồ sơ hết sức sơ sài, kém thuyết phục.

Trong quá trình làm hồ sơ cho khách của mình, người viết thường xuyên góp ý để khách hàng trình bày mối quan hệ của mình một cách sinh động hơn, theo đó ngoài chủ đề: Anh/Chị đã quen nhau và đến với nhau như thế nào, người xin visa và người bảo lãnh có thể viết thêm về các chủ đề sau:

1. Tại sao lại là người đó?
-------------------------
Thông thường mỗi con người đều sẽ có cho mình nhiều mối quan hệ. Trong những mối quan hệ ấy, đâu đó sẽ những đối tượng để ta yêu thương. Nhưng giữa bao nhiêu lựa chọn ấy, tại sao chúng ta đã chọn người bạn đời của mình mà không ai khác, bất chấp việc: tuổi tác hai người có thể cách nhau, điều kiện của hai người có thể không tương xứng, hoặc thậm chí là câu hỏi: bạn hoàn toàn có thể quen được người có điều kiện tốt hơn, tại sao lại là người ấy mà không phải là ai khác?
Người viết từng chia sẽ về một hồ sơ người viết can thiệp sau khi bị từ chối. Nhân viên Bộ Nội vụ, trong quyết định từ chối nói rằng họ không thể hiểu nổi tại sao người xin visa trả lời phỏng vấn, và cả trong hồ sơ, nói rằng mối quan hệ của Cô ấy (30 tuổi) với người bảo lãnh (60 tuổi) bắt đầu ngay từ lần gặp mặt đầu tiên? Trong bản tường trình của mình, người này viết:
“Lúc đó, đối với một người mẹ đơn thân phải chật vật kiếm ăn từng bữa, nuôi hai đứa con nhỏ như tôi mà nói, thì đến với một người Việt Kiều Úc đứng tuổi, đang muốn tìm kiếm một mối quan hệ nghiêm túc rõ ràng là một lựa chọn không tồi...”
Bằng chứng cho thấy, sau khi quen nhau, người chồng Úc bắt đầu chuyển tiền hàng tháng để cải thiện cuộc sống cho vợ và con mình.

2. Tính tốt và xấu của đối phương
----------------------------------
Nếu người bạn đời của quý vị không có đức tính gì tốt đẹp, hiển nhiên quý vị không thể nào quyết định gắn bó cuộc đời mình với họ. Đừng ngần ngại khen ngợi người bạn đời của mình trong bản tường trình để nhân viên Di trú biết được quý vị yêu người bạn đời của mình đến mức nào.
Tất nhiên, con người không ai hoàn hảo, cũng chẳng hại gì khi chúng ta đề cập đến một chút tật xấu của bạn mình, nhớ là chỉ kể đến những tật xấu mà chúng ta có thể chấp nhận được và không ảnh hưởng đến sự bền vững của cuộc hôn nhân (tính xấu rơi vào một trong tứ đổ tường thì không đánh đừng khai ở đây nhé)

3. Một ngày điển hình của chúng tôi
------------------------------------
Nhân viên Di trú không ở cùng nhà với quý vị, họ không thể nào biết gia đình quý vị như thế nào cả. Hãy thử nghĩ lại, một ngày điển hình của quý vị khi sống chung là như thế nào? Đối với những cặp đôi cùng sống ở Úc, những ngày đi làm, quý vị dậy mấy giờ, ai dậy trước, sau đó mấy giờ thì đi làm, mấy giờ về nhà, ai nấu ăn, buổi tối lại sinh hoạt thế nào trước khi đi ngủ? Những ngày cuối tuần của quý vị sẽ có gì khác so với ngày đi làm?

4. Thân nhân và bè bạn
------------------------
Đừng ngại ngần mở rộng mối quan hệ của quý vị ra gia đình và bạn bè đối phương. Hãy thể hiện với nhân viên Di trú là quý vị biết rất rõ gia đình và bạn bè của người bạn đời của mình. Anh ấy / Cô ấy có con riêng không? Quý vị có tiếp xúc với gia đình bên ấy không? Quý vị có thường xuyên tụ tập với bạn bè của người kia không? Thậm chí, có người bạn nào của người kia nay đã trở thành bạn chung của hai người hay không?

5. Công việc và thu nhập
-------------------------
Hiện tại, tôi đang làm việc tại công ty nào đó, công việc chủ yếu của tôi là gì và thu nhập hàng tuần/ mỗi hai tuần của tôi là bao nhiêu? Tương tự bạn đời của tôi làm việc thế nào? Chỗ làm cách nhà bao xa và tôi tự lái xe đi làm hay có ai đưa rước? công việc này tôi đã làm được bao lâu, từ đâu mà xin được công việc này? Đây cũng là một chủ đề quý vị muốn đề cập đến để bản tường trình thêm phần chi tiết.

6. Kế hoạch cho tương lai
-------------------------
Hãy nhìn về con đường 5 – 10 năm phía trước, quý vị dự kiến sẽ làm gì, quý vị hy vọng cuộc sống mình sẽ như thế nào sau khi quý vị đã lấy được visa. (Tuyệt đối đừng bao giờ nói đợi vào PR mới có con nhé, nhân viên Di trú sẽ cười quý vị nói xạo thiếu tế nhị đấy). Hãy thử nghĩ xem quý vị sẽ tiếp tục làm công việc hiện tại, hay quý vị sẽ thăng cấp, hay quý vị sẽ tìm kiếm công việc tốt hơn, hoặc quý vị sẽ mở ra kinh doanh cái gì đó? Hãy cứ tuỳ ý thêm vào những mơ ước để làm cuộc sống của hai người trở nên thú vị và tươi đẹp hơn nha.

Lời kết
------
Một bản tường trình nên có độ dài 4-5 trang giấy. Và để kết thúc, đừng quên tạo cho mình một câu kết thúc ấn tượng, bời đây sẽ là câu nói cuối cùng vang vọng trong tâm trí của người xét duyệt sau khi đọc bản tường trình. Ví dụ, quý vị có thể viết như thế này:

"Tôi chỉ mong cho gia đình mình một cuộc sống yên bình và sức khoẻ, để những ngày tháng như bây giờ sẽ kéo dài mãi mãi. Đối với tôi, được ở bên người mình yêu thương thì mỗi một ngày qua đi đều sẽ là một kỉ niệm, một hạnh phúc trọn vẹn…"
0 Comments

1/24/2022 0 Comments

Lưu ý khi nhận yêu cầu khám sức khoẻ lần 2

Picture
Picture
Picture
Người viết dạo gần đây phát hiện một lỗi hành chính khá thường gặp của Bộ Nội vụ. Nạn nhân thường là người xin visa đã từng khám sức khoẻ một lần, và sau 18 tháng, Bộ Nội vụ yêu cầu khám sức khoẻ lần 2 vì kết quả cũ đã hết hạn.

1. Đôi điều cần hiểu về quy trình khám sức khoẻ

Trong quy trình khám sức khoẻ, hệ thống của Bộ Nội vụ thường tạo một HAP ID cho người xin visa. HAP ID là một dãy số có 7 chữ số tạo ra duy nhất cho mỗi người xin visa.

Sau khi có HAP ID, hệ thống của Bộ sẽ tạo ô ghi chú nội dung cần khám sức khoẻ cho người xin visa, trong ví dụ dưới đây là:
- HIV test;
- Chest X-ray Examination; và
- Medical Examination.

Khi người xin visa đi khám sức khoẻ, đơn vị khám sức khoẻ BUPA sẽ cung cấp kết quả khám sức khoẻ vào ô ghi chú nội dung tương ứng.

Ví dụ: HAP ID 1234567
- HIV test: âm tính (các báo cáo liên quan)
- Chest X-ray Examination: không có dấu hiệu của lao phổi hay dấu vết bất thường (các báo cáo liên quan)
- Medical Examination: đạt yêu cầu (các báo cáo liên quan)

Khi kết quả được cung cấp về Bộ Nội vụ, các ô ghi chú này được ghi nhận là hoàn tất (Completed).

2. Lỗi hành chính của nhân viên Bộ

Đúng ra, khi yêu cầu khám sức khoẻ lần 2, nhân viên của Bộ phải tạo ô ghi chú mới hoặc cấp HAP ID mới hoặc xoá ô ghi chú cũ vì BUPA sẽ không thể sử dụng lại / ghi chồng lên những ô ghi chú đã hoàn tất.

Tuy nhiên, người viết khá thường xuyên phát hiện nhân viên Bộ Nội vụ quên xử lý vấn đề này. Hậu quả là không ít trường hợp, người xin visa phải đặt lịch hẹn và chờ đến ngày khám sức khoẻ rồi phải ra về uổng công khi phát hiện nhân viên Bộ đã quên cập nhật trên hệ thống. BUPA sẽ không thể nào tiến hành khám sức khoẻ khi kết quả ô ghi chú được ghi nhận là đã hoàn tất (Completed).

Người xin visa sau đó sẽ phải báo lại với Bộ Nội vụ để họ cập nhật trên hệ thống và đặt hẹn mới với BUPA để quay trở lại vào một ngày khác. Hiện tại, thời gian chờ trung bình từ lúc đặt hẹn đến ngày đi khám sức khoẻ lên đến vài tháng.

3. Làm thế nào để hạn chế rủi ro?

Nếu người xin visa đã từng đi khám sức khoẻ và được yêu cầu đi khám lần 2, hãy kiểm tra HEALTH EXAMINATIONS LIST của mình xem các mục cần khám có ghi chú là (Completed) hay không.

Nếu có, quý vị nên liên lạc ngay với đội xét duyệt visa để họ cập nhật hệ thống trước ngày đi khám sức khoẻ. Như vậy quý vị sẽ không phải phí công làm lại cuộc hẹn mới và phải chờ đợi lại từ đầu.

Sự thật là, Bộ sẽ không cấp visa trước khi người xin visa hoàn tất khám sức khoẻ như yêu cầu
0 Comments

12/14/2021 0 Comments

Bốn câu hỏi của hồ sơ du lịch

Picture
Mỗi dạo Giáng sinh và năm mới, nhiều người lại có ý định đi thăm thú đó đây và Úc có lẽ là một trong những điểm đến mong ước của khá nhiều người. Tuy nhiên, việc chuẩn bị hồ sơ xin đi Úc không phải với ai cũng dễ dàng. Hôm nay người viết xin chia sẽ 4 câu hỏi chính mà một hồ sơ du lịch cần phải làm rõ để có được cơ hội thành công cao nhất.

Câu hỏi thứ nhất: quý vị có đủ tài chính tài trợ cho chuyến đi hay không?

Theo nhẫm tính của người viết, mỗi tháng ở Úc chi phí sinh hoạt hợp lý của một người dao động từ $1,000 đến $1,500 Úc kim mỗi tháng. Cộng với vé máy bay hai chiều Úc – Việt thì người xin visa nên có bằng chứng tài chính nhàn rỗi $4,500 đến $5,000 trong quỹ du lịch của mình. Người bảo lãnh (nếu có) cũng nên chuẩn bị một số tiền tương ứng trong tài khoảng và cung cấp một lá thư mời du lịch.

Câu hỏi thứ hai: quý vị có lý do chính đáng để thăm Úc hay không?

Lý do này thay đổi theo từng trường hợp cụ thể và quý vị nên trình bày cho nhân viên xét duyệt hồ sơ thấy và tin. Nếu người xin visa chỉ nạp vào các bằng chứng khác mà không làm rõ mục đích chuyến đi, cơ hội thành công của hồ sơ rất có thể sẽ bị hạn chế.

Câu hỏi thứ ba: liệu quý vị có làm chui sau khi đến Úc hay không?

Người xin visa nên biết là tất cả các hoạt động nhằm thu lợi về mặt tài chính khi ở Úc là vi phạm của điều kiện “cấm đi làm” của visa du lịch. Người xin visa nên trình bày rõ ràng trong hồ sơ là bản thân biết rõ là mình không được đi làm trong thời gian ở Úc và cam kết tuân thủ yêu cầu trên. Trong kinh nghiệm của người viết, nếu quý vị có công ăn việc làm ổn định ở Việt Nam trong một thời gian dài tính đến thời điểm xin visa, toà lãnh sự sẽ tin tưởng hơn về việc quý vị sẽ không làm chui sau khi đến Úc.

Câu hỏi thứ tư: liệu sau khi đến Úc, quý vị có trốn lậu lại hoặc xin một loại visa nào đó để định cư Úc hay không?

Trong thống kê của Bộ Di trú, những người có vợ chồng hoặc con phụ thuộc ở lại Việt Nam sẽ có rủi ro trốn lại thấp hơn những người không có; những người có công việc ổn định trong một thời gian dài sẽ có xu hướng trốn lại thấp hơn những người thất nghiệp hoặc công việc tạm bợ; và những người có sở hữu tài sản đất đai hoặc tài sản có giá trị lớn thường có tỷ lệ trốn lại thấp hơn những người không có.

Lời kết

Visa du lịch trong kinh nghiệm của người viết là loại visa chịu ảnh hưởng của yếu tố may rủi cao nhất trong các loại visa, đặc biệt là trong trường hợp người xin visa không thể khiếu nại nếu bị từ chối. Tuy nhiên, visa này có chi phí khá thấp và không yêu cầu quá nhiều giấy tờ như những hồ sơ khác. Vậy nên, mấy backpacker của Việt Nam nếu muốn một lần thăm nhà hát con sò của Úc thì ngần ngại gì mà không thử vận số đầu năm?

Khung thời gian xét duyệt của Visa du lịch ở Việt Nam hiên từ 10 – 30 ngày nên đằng nào thì câu trả lời cũng sẽ có trước mùa xuân...
0 Comments

    Author

    Trương Như Bảo
    Đại diện Di trú số 1677990

    Archives

    June 2025
    March 2024
    December 2022
    July 2022
    February 2022
    January 2022
    December 2021

    Categories

    All

    RSS Feed

Powered by Create your own unique website with customizable templates.