|
7/18/2022 0 Comments Visa 300 checklistThời gian gần đây, người viết đôi lần nhận được câu hỏi là một bộ hồ sơ đính hôn thường cần có những bằng chứng gì. Thực sự là từ ngày đầu học nghề, người viết đã được cảnh báo về sự nguy hiểm của cách làm việc dập khuôn. Người viết lưu ý là việc sử dụng kiến thức chuyên sâu về di trú mà không được giám sát kĩ lưỡng của người đại diện, có khi chẳng khác gì tự ý dùng thuốc liều mạnh mà không có hướng dẫn của bác sĩ: hậu quả có thể sẽ vô cùng nguy hại.
Tuy nhiên, để chia sẻ một vài kiến thức phổ thông cho bà con tiện tham khảo, người viết sẽ thảo ra đây một vài yêu cầu của hồ sơ đính hôn (tiểu loại 300) và các bằng chứng thường gặp. Người viết khuyến cáo là những thông tin dưới đây không thể sử dụng để thay thế những tư vấn của một người đại diện có chuyên môn. 1. Các mẫu đơn --------------- - Form 47SP (Internet). Mẫu đơn này có thể tìm thấy trong ImmiAccount. Để nộp được hồ sơ bạn đời, quý vị phải mở một tài khoảng với Bộ Nội vụ Úc gọi là ImmiAccount. Mọi trao đổi sau này sẽ thông qua ImmiAccount. - Form 40SP. Đây là đơn của người bảo lãnh có tên đầy đủ là “Sponsorship for a partner to migrate to Australia”. Đơn này có hai dạng: Form 40SP (Internet) có thể tìm thấy ở ImmiAccount hoặc form 40SP giấy có thể Google để tải về. Thông thường người viết chỉ dùng form giấy nếu form 40SP (internet) bị lỗi và sẽ vẫn làm lại một form 40SP internet sau khi hệ thống đã hết lỗi. - Form 47A. Nếu quý vị có đính kèm phụ đơn trên 18 tuổi (ví dụ như con phụ thuộc đi theo ba hoặc mẹ) quý vị sẽ cần cung cấp form 47A và các bằng chứng chứng minh người con đó phụ thuộc vào mình về phương diện tài chính và các mặt khác. Các bằng chứng chứng minh con phụ thuộc đã được trình bày trong một bài viết trước đây. 2. Lệ phí --------- Lệ phí hiện tại cho đương đơn chính của hồ sơ 300 là $8,085, mỗi phụ đơn trên 18 tuổi là sẽ cộng thêm $4,045 và mỗi phụ đơn dưới 18 tuổi sẽ cộng thêm $2,025. Người viết lưu ý là Bộ Nội vụ luôn tính thêm 5% Internet surcharge nên lệ phí thực đóng thường cao hơn vài trăm đô. 3. Dữ liệu sinh trắc học (Biometrics) ----------------------------------- Ngày trước, trong mỗi hồ sơ thường đính kèm một ảnh passport. Tuy nhiên, thời gian trở lại đây người xin visa ở Việt Nam sẽ phải làm hẹn và đến văn phòng VFS để cơ quan này thu thập dữ liệu sinh trắc học của đương đơn và gửi cho Bộ Nội vụ. Sau khi nộp hồ sơ, người xin visa sẽ nhận được email yêu cầu làm hẹn thu thập dữ liệu sinh trắc học. 4. Giấy tờ tuỳ thân ------------------- Để Bộ Nội vụ biết được người xin visa là ai và người bảo lãnh là ai, hồ sơ phải cung cấp các giấy tờ tuỳ thân, bao gồm: - passport, - giấy khai sinh, - căn cước công dân, - sổ hộ khẩu (nếu có), - bằng lái xe, - bằng chứng người bảo lãnh là thường trú nhân hoặc công dân Úc... Các văn bản bằng tiếng Việt cần phải được dịch ra tiếng Anh. Các văn bản bằng tiếng Anh hoặc song ngữ có thể scan màu rõ nét và upload lên ImmiAccount. 5. Tiền án tiền sự ----------------- - Australian Police Clearance Người bảo lãnh và những người xin visa từng đến Úc sẽ phải cung cấp Australian Police Clearance. Khi nộp đơn xin giấy cảnh sát Úc, nhớ phải xin mẫu theo code 33, chuyên dùng cho Di trú vì loại này là Complete Disclosure. -Lí lịch tư pháp số 2 Người xin visa 300 sẽ phải nộp lí lịch tư pháp số 2 ở Việt Nam để chứng minh mình không có án tích. Thỉnh thoảng Bộ Nội vụ cũng sẽ yêu cầu người bảo lãnh cung cấp tờ LLTP2 này. - Các quốc gia khác Nếu người bảo lãnh và người xin visa từng cư trú ở một quốc gia nào đó từ 12 tháng trở lên (dù là trong một chuyến hoặc nhiều chuyến cộng lại) Bộ Nội vụ có thể sẽ yêu cầu quý vị phải xin giấy cảnh sát hoặc toà án chính quyền sở tại xác nhận quý vị không có án tích. Thông thường giấy cảnh sát có hạn 12 tháng kể từ ngày cấp. 6. Khám sức khoẻ ------------------ Sau khi nộp hồ sơ, người xin visa có thể tự lên lịch khám sức khoẻ. Link khám sức khoẻ có thể tìm thấy trong hồ sơ ở ImmiAccount. Thông thường kết quả khám sức khoẻ có giá trị trong vòng 18 tháng. 7. Giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân ---------------------------------------- Hồ sơ đính hôn là một cam kết rằng người xin visa sẽ kết hôn với người bảo lãnh sau khi vào Úc. Bộ Nội vụ thường yêu cầu người xin visa và người bảo lãnh cung cấp những giấy tờ chứng minh mình có thể kết hôn mà không có gì cản trở. Dựa vào tình trạng hôn nhân, các giấy tờ này chia làm 3 trường hợp: - Độc thân. Người độc thân là người chưa từng kết hôn và chưa từng có một mối quan hệ nào khác. Quý vị có thể xin giấy chứng nhận độc thân (Single Certificate). - Đã li thân. Trường hợp quý vị từng chung sống như vợ chồng không hôn thú với người một người và có con với cũ, quý vị không phải là người độc thân mà là người đã li thân (separated). Quý vị có thể xin giấy chứng nhận hiện không kết hôn (No record of marriage). - Đã li hôn. Nếu quý vị từng kết hôn, quý vị phải có giấy ly hôn. Nếu quý vị đã kết hôn và không thể cung cấp giấy ly hôn, Bộ Nội vụ có thể đi đến kết luận rằng cuộc hôn nhân cũ của quý vị chưa kết thúc, do đó quý vị hiện không thể kết hôn với người kia. Đây có thể trở thành cơ sở để Lãnh sự ra quyết định từ chối. Thỉnh thoảng, Bộ Nội vụ sẽ đòi hỏi cả giấy ly hôn và giấy chứng nhận hiện không kết hôn (No record of marriage) đối với người đã li hôn. 8. Bằng chứng của mối quan hệ -------------------------------- Theo luật, để xác định một mối quan hệ của người xin visa là thành thật hay không, Bộ Nội vụ sẽ đánh giá theo 4 chỉ tiêu: phương diện tài chính, phương diện xã hội, bản chất cuộc sống chung và bản chất sự gắn bó của mối quan hệ. a. Phương diện tài chính -------------------------- Câu hỏi chủ đạo của phương diện tài chính là liệu người xin visa và người bảo lãnh có góp gạo thổi cơm chung không? Hay tiền ai người ấy tiêu? - Bằng chứng chuyển tiền. Đối với người xin visa đính hôn, vì hai người thường sống ở hai quốc gia, các bằng chứng tài chính thường khá hạn chế. Người viết từng thấy người bảo lãnh mở tài khoảng ANZ ở Úc và chuyển tiền vào đó hàng tháng để người xin visa rút ra mỗi tháng ở VN. Một số gia đình khác sử dụng dịch vụ chuyển tiền từ Úc về Vn và giữ lại biên nhận để cung cấp cho di trú. - Bản tường trình (phần khai về phương diện tài chính) Trong bản tường trình của hồ sơ 300, người viết thỉnh thoảng thấy đề cập: mỗi chuyến đi chơi chung, ai bỏ tiền mua vé máy bay, ai trả tiền khách sạn và ăn tiêu… Trong đám cưới hoặc lễ đính hôn: ai bỏ tiền ra, hoặc đóng góp như thế nào… Thỉnh thoảng người viết cũng thấy người xin visa nói về thu nhập và tài chính của người bảo lãnh. Nếu quý vị không đề cập, lãnh sự có thể hỏi vềg chủ đề này trong phỏng vấn. Lãnh sự thường sẽ không thấy thuyết phục nếu quý vị không biết gì về tài chính của đối phương dù người xin visa có thể chưa một lần đến Úc. b. Phương diện xã hội ----------------------- Câu hỏi chủ đạo của phương diện xã hội là người xin visa và người bảo lãnh có công bố mối quan hệ của họ với gia đình, bạn bè, chính quyền và người xung quanh hay không? Họ có xuất hiện ở các nơi công cộng như một cặp đôi hay không? - Hình ảnh. Trong hồ sơ đính hôn, hình ảnh là loại bằng chứng quan trọng vì trăm nghe không bằng một thấy. Thử nghĩ nếu một hồ sơ cứ lặp đi lặp lại là chúng tôi rất yêu thương nhau mà hình ảnh cho thấy họ rất đơ và thiếu gần gũi khi đứng cạnh nhau thì chắc hẳn lãnh sự sẽ không khỏi nghi ngờ. Các hình ảnh thường thấy trong hồ sơ đính hôn bao gồm hình ảnh hai người gọi điện cho nhau (screenshot), đi chơi cùng nhau mỗi khi người bảo lãnh về Việt Nam, đám cưới/ đám hỏi và các hình ảnh người này xuất hiện cùng với gia đình người kia. - một vài bằng chứng khác Ngoài ra, hồ sơ cũng nên cung cấp các tờ khai nhân chứng (thường gọi là form 888); vé máy bay và boarding passes (chứng minh hai người bay đi bay về cùng nhau) hay các thẻ thành viên của các tổ chức (cùng đi lễ nhà thờ, thường xuyên đến một ngôi chùa, fan club, thậm chỉ cả hội viên của hội người yêu nhạc, mô tô phân khối lớn…) để chứng minh những sinh hoạt chung. - Bản tường trình (phần khai về phương diện xã hội). Quý vị có thể cung cấp lời khai về các chuyến đi chơi cùng nhau, lần đầu đến nhà người kia và mối quan hệ của quý vị với thân nhân, bạn bè của người kia. Việc người xin visa có hiểu biết sâu sắc về gia đình và bạn bè người bảo lãnh (và ngược lại) là bằng chứng rất thuyết phục của hồ sơ. Ngược lại nếu người xin visa hoàn toàn không biết gì về gia đình bên kia, Lãnh sự rất có thể sẽ cần một lời giải thích. c. Thu xếp hộ gia đình ------------------------ Câu hỏi chủ đạo của phương diện này là những thu xếp về cuộc sống chung khi hai người ở cùng nhau. Đối với hồ sơ 300, hai người thường sống ở hai quốc gia nên bằng chứng sống chung thường rất hạn chế. - Bản tường trình (phần khai về cuộc sống chung). Nếu quý vị có chăm sóc con chung – con riêng hoặc các thân nhân của người kia, đừng quên đề cập trong bản tường trình mối quan hệ. Ngoài ra, người viết cũng thường thấy trong bản tường trình xuất hiện nội dung: một ngày điển hình khi chúng tôi ở cùng nhau: ai sẽ nấu ăn, giặt đồ, chùi dọn nhà cửa, phân chia việc nhà… các hoạt động trong tuần và cuối tuần… d. Mối ràng buộc của mối quan hệ ----------------------------------- Câu hỏi chủ đạo của phương diện này mối dây liên kết trong mối quan hệ của hai người mạnh yếu thế nào? Hai người có bao giờ hỗ trợ nhau về mặt tinh thần/tình cảm hay không? - Lịch sử nhắn tin gọi điện Những bằng chứng liên lạc như lịch sử nhắn tin và gọi điện sẽ phản ánh họ có thường xuyên liên lạc với nhau khi xa cách hay không? Người viết từng nhận hơn 9000 ảnh chụp màn hình về lịch sử nhắn tin qua lại của khách. Sau khi chỉnh sửa và cung cấp cho Lãnh sự được hơn 3500 hình, người viết đưa hẳn luôn Google Account và mật khẩu để nhân viên di trú tự vào xem nếu muốn với tin nhắn: “Người viết chỉ có thể cung cấp hơn 3500 screenshot trong tổng số hơn 9000 screenshot. Số còn lại Bộ có thể tự vào xem”. - Bản tường trình (phần khai về mối quan hệ). Ngoài bằng chứng liên lạc trong xa cách, bản tường trình mối quan hệ của quý vị nên đề cập đến lịch sử phát triển của mối quan hệ. Đừng quên đề cập tại sao quý vị đã lựa chọn đối phương và quý vị có những kế hoạch gì trong tương lai sống chung sắp tới trên nước Úc, nếu được cấp visa. 9. Giấy báo hôn --------------- Trong hồ sơ đính hôn, người bảo lãnh thường phải liên lạc một người chứng hôn (Marriage Celebrant) để người này xuất giấy báo hôn. Giấy báo hôn có tên gọi chính thức là Notice of Intended Marriage nên thường được gọi là NOIM. Về cơ bản, giấy NOIM là xác nhận của một người chứng hôn rằng họ được thông báo về kế hoạch kết hôn của người xin visa và người bảo lãnh vào một ngày dự kiến nào đó và xác nhận đã lên lịch để ngày đó giờ đó cử hành hôn lễ cho người xin visa và người bảo lãnh. Trong kinh nghiệm của người viết, ngày kết hôn dự kiến nên lên lịch trước 12 – 18 tháng tránh tình trạng ngày dự kiến kết hôn đã qua mà visa chưa được cấp. Trong tình huống ấy, người bảo lãnh cần xin một tờ NOIM mới để bổ sung hồ sơ. Ngày dự kiến kết hôn là một câu hỏi thường gặp trong phỏng vấn nên quí vị nên chọn ngày dễ nhớ như sinh nhật của người xin visa/ người bảo lãnh hoặc một ngày đặc biệt nào đó như 26/01, 14/02, 08/03… Sau khi được cấp visa để đến Úc, nếu quý vị thay đổi kế hoạch và kết hôn sớm hơn hay muộn hơn ngày dự kiến ban đầu, thông thường Bộ Nội vụ sẽ không có vấn đề gì với sự thay đổi đó. 10. Các bằng chứng khác ------------------------- Như đã nói ở đầu bài viết, mỗi hồ sơ sẽ có một tình tiết đặc biệt riêng. Nếu hồ sơ của quý vị có gì đó đặc biệt đáng chú ý, hãy cung cấp bằng chứng cho Lãnh sự. Những bằng chứng từ giấy xác nhận sẩy thai, tình trạng sức khoẻ yếu kém của người bảo lãnh, báo cáo bác sĩ tâm lý hay di chúc, thư hỗ trợ của dân biểu hoặc các tổ chức dân sự Úc, đến cả đơn xin lệnh án bảo vệ của Toà (Intervention Order) chống lại người vợ/chồng cũ… Các loại bằng chứng này có thể không trực tiếp chứng minh mối quan hệ của quý vị là thành thật hay không thành thật, nhưng nó sẽ hoàn thiện bức tranh, giúp cho nhân viên lãnh sự hiểu được con đường mà người xin visa và người bảo lãnh đã trải qua cho đến khi họ tìm được nhau. Nghề di trú có thể là những đống giấy tờ khô khan của luật, nhưng nó cũng có thể là những câu chuyện cảm động, những tình yêu nồng nàn, hay những phận đời thấm đẫm nước mắt đến mức nhân viên lãnh sự cảm thấy họ phải cấp visa để đem đến một kết thúc có hậu cho người xin visa và người bảo lãnh. Trong Di trú, việc chuẩn bị kỹ lưỡng và cách trình bày khôn khéo là chìa khoá để tạo ra sự khác biệt.
0 Comments
Leave a Reply. |
AuthorTrương Như Bảo Archives
June 2025
Categories |
RSS Feed