|
6/16/2025 0 Comments LUẬT LÀ LUẬTNhiều quy định trong luật di trú Úc được viết rất cụ thể, rõ ràng – nhưng không phải luật nào cũng có logic nhất quán. Có những điểm nếu không để ý kỹ, người ta dễ mắc sai lầm dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.
Dưới đây là ví dụ điển hình từ Reg 4.02 - quy định về việc nộp đơn khiếu nại sau khi bị từ chối visa - những quy định mà nhiều người hành nghề di trú vẫn còn chưa nắm vững: Visa 300 (hôn phu/hôn thê): Nếu bị từ chối, chỉ có người bảo lãnh mới có quyền khiếu nại. Visa 309 (vợ/chồng – nộp ngoài Úc): Ngược lại với visa 300, người xin visa phải là người nộp đơn khiếu nại. Visa 445 (con phụ thuộc của người có visa 820): Nếu bị từ chối, người bảo lãnh (thường là vợ/chồng người Úc) mới là người có quyền đứng đơn khiếu nại. Visa 173 (con bảo lãnh cha mẹ diện đóng tiền tạm trú): Nếu đứa bé mới sinh là con ruột người xin visa bị từ chối visa kèm theo hồ sơ, người khiếu nại phải là người bảo lãnh – chứ không phải cha/mẹ ruột của đứa bé. Ngược lại, Visa 884 (cha mẹ cao niên đóng tiền tạm trú): Nếu cũng là đứa bé đi kèm và bị từ chối, thì người khiếu nại phải là chính người xin visa, không phải người bảo lãnh. Visa 870 (cha mẹ du lịch dài hạn 3-5 năm, nộp offshore): Nếu bị từ chối, người bảo lãnh (parent sponsor) mới là người có quyền khiếu nại. Visa 407 / 408 / 457 / 482 / 494 / 489 / 491: Nếu bị từ chối, người có quyền khiếu nại là người bảo trợ (sponsor) hoặc người đề cử (nominator), không phải người xin visa. TẠI SAO VIỆC NÀY NGUY HIỂM? Nếu điền sai người nộp đơn khiếu nại, thì: • Đơn kháng nghị sẽ bị vô hiệu • Thời hạn khiếu nại trôi qua • Người xin visa mất quyền khiếu nại • Người hành nghề di trú có thể bị mất bằng, bị kỷ luật Hy vọng chuyện buồn này sẽ xảy ra càng ít càng tốt với cộng đồng người Việt. Đây là lỗi kỹ thuật dễ mắc phải, nhưng hậu quả vô cùng to lớn. Nếu quý vị đang chuẩn bị soạn đơn khiếu nại lên Tribunal – hãy kiểm tra kỹ ai là người được quyền khiếu nại. Điền sai là mất lượt!
0 Comments
6/16/2025 0 Comments Ngoại tình rồi xin tị nạnThứ Tư vừa rồi, Tòa liên bang vừa hủy (quash) một quyết định từ chối visa bảo hộ cho một phụ nữ Bangladesh vì Tribunal đã đánh giá sai mức độ tin cậy của cô – nhưng câu chuyện đằng sau mới thật sự gây sốc.
FCX18 v Minister for Immigration, Citizenship and Multicultural Affairs [2025] FedCFamC2G 872 (11 June 2025) là đơn khiếu nại của người phụ nữ nói trên. Gần 19 năm trước, tháng 12 năm 2006, Chị này đến Úc theo diện du học sinh phụ thuộc sau khi kết hôn với chồng cũ, có vẻ như lúc đó anh này đang giữ visa du học sinh Úc. Theo lời khai, chồng cũ của chị này là người vũ phu và chị từng bị bạo hành nghiêm trọng: bị đánh, bị bóp cổ, bị đe dọa giết, bị ép bán hết trang sức… Sau này, chị gặp và phát sinh tình cảm với một người đàn ông đồng hương. Họ nương tựa vào nhau, sống chung và có 2 người con. Gia đình này sau đó nộp đơn xin visa bảo hộ (protection visa), nói rằng nếu bị buộc quay lại Bangladesh, họ sẽ đối diện với nguy cơ bị giết vì danh dự – vì chị này đã bỏ chồng, có con ngoài giá thú, và "làm mất mặt" gia đình. Tribunal không tin, nói rằng lời khai của chị này mâu thuẫn, không có bằng chứng, và hành vi không giống “nạn nhân bạo hành”. Tòa liên bang bác bỏ cách nghĩ này vì cho rằng: Những mâu thuẫn nhỏ không đủ để phủ định toàn bộ lời khai về bạo hành. Tribunal đã không xem xét đúng mức bối cảnh văn hoá, xã hội, và nguy cơ thật sự khi người phụ nữ này quay về quê nhà. Lời kết: Tị nạn không chỉ là vì chiến tranh hay chính trị mà các lí do để xin được bảo vệ thật sự quá phong phú. Hết xin tị nạn để cai nghiện, giờ đến xin tị nạn vì lỡ ngoại tình, về nước sợ gặp nguy hiểm... 6/10/2025 0 Comments Chuyện cô Hodan MahamudTuần rồi ở Toà liên bang có một án lệ hết sức quan trọng đối với visa trẻ mồ côi (Orphan relative visa - tiểu loại 117 hoặc 837).
Loại visa này không nhiều người biết đến, nhưng là nhu cầu khá phổ biến đối với người Việt Nam vì nó cho phép thường trú nhân, công dân Úc bảo lãnh thân nhân của mình. Thân nhân ở đây bao gồm cháu nội, cháu ngoại, cháu gọi bằng cô, dì, chú, bác, cậu (cháu ruột); và cả anh chị em. Mahamud - [2025] FedCFamC2G 789 (30 May 2025) là cuộc chiến pháp lý 10 năm của cô Mahamud để đưa 5 đứa trẻ mồ côi vì chiến tranh đi Úc. Hồi năm 2015, cô Hodan Mahamud, công dân Úc gốc Somalia, đã nộp hồ sơ bảo lãnh cho 5 đứa cháu ruột, là con của chị gái cô, xin visa trẻ mồ côi (Orphan relative visa). Các bạn nhỏ này đang sống ở Ethiopia sau khi chạy trốn khỏi nội chiến ở Somalia. Cha của các cháu bị bắn chết khoảng năm 2003, còn mẹ thì mất tích từ năm 2012–2014, không ai biết còn sống hay đã chết. Theo quy định tại điều 1.14(b) của Migration Regulations 1994, để được công nhận là “orphan relative” (trẻ mồ côi có người thân), đứa trẻ phải không thể được cha hoặc mẹ nào chăm sóc, vì cả hai người đều rơi vào một trong ba trường hợp sau: đã qua đời, bị mất năng lực vĩnh viễn, hoặc không rõ tung tích. Bộ Di trú từ chối cấp visa với lý do không đủ bằng chứng cha mẹ chúng đã chết hoặc không rõ tung tích, và Tribunal lúc bấy giờ là AAT cũng đồng ý. Tribunal nói đại ý rằng nếu người cha thực sự bị bắn chết tại nhà thì phải có giấy tờ gì đó, hoặc xác nhận từ chính quyền hoặc cộng đồng. Tribunal không thể “tin” nếu không có giấy. Cô Mahamud sau đó khởi kiện lên Tòa liên bang, và Toà liên bang chấp nhận đơn khiếu nại của cô. Tòa tuyên bố rằng Tribunal đã xử sai luật vì đưa ra những giả định vô lý, cụ thể là: • Trong thời nội chiến ở Somalia, việc không có giấy chứng tử hay xác nhận từ chính quyền địa phương là điều dễ hiểu. Việc Tribunal đòi hỏi điều đó là phi thực tế và trái với bằng chứng thực tế. • Ngoài ra, nói về người mẹ, quy định pháp luật chỉ yêu cầu “không rõ tung tích cha/mẹ”, chứ không đòi hỏi phải chứng minh đã cố gắng đi tìm. Tribunal không được tự ý thêm yêu cầu không có trong luật. Kết quả: Tòa ra lệnh hủy bỏ quyết định cũ, trả hồ sơ về lại Tribunal và yêu cầu Tribunal phải xét xử lại vụ việc đúng theo luật. Trong luật di trú, Bộ Nội vụ và Tribunal không được phép suy diễn hoặc áp đặt những giả định không có căn cứ vào hoàn cảnh của người xin visa. Đây có thể chỉ là một vụ án nhỏ, nhưng là một chiến thắng quan trọng cho công lý – đặc biệt là với những người xin visa đến từ các vùng chiến tranh không thể có "giấy tờ hợp lệ". Quan trọng hơn, đối với những hồ sơ của trẻ mồ côi sắp tới thì án lệ này chỉ rõ: 1. Nếu cha mẹ đứa nhỏ mất tích, gia đình không cần chứng minh mình đã đi tìm; và 2. Trong những tình huống cá biệt, cha mẹ chết nhưng có thể không có giấy tờ chứng tử vẫn có thể được chấp nhận nếu tình huống đó là hợp lí. 6/10/2025 0 Comments Từ tribunal đến courtsTuần lễ vừa qua là một tuần “không mấy dễ chịu” cho Bộ Di trú khi một loạt quyết định của Bộ trưởng bị đem ra xét xử ở Toà liên bang. Hãy cùng Bảo điểm lại 4 vụ án dưới đây nhé:
1. EJQ18 - [2025] FedCFamC2G 816 (30 May 2025) Một người đàn ông Iran bị giam giữ trong trại di trú sau khi xin tị nạn thất bại. Trong cơn tuyệt vọng, anh đập đầu vào tường tự gây thương tích và làm nứt tường – kết quả là bị kết án 18 tháng tù vì tội “gây thiệt hại tài sản công”. Một bản án dù có thể đúng luật nhưng thật quá gây tranh cãi về tính người. Sự việc còn đi xa hơn khi Bộ trưởng đã dựa trên bản án này để từ chối cấp visa cho Anh này với lí do anh không đáp ứng yêu cầu nhân cách (character test), và không có lí do để mở ngoại lệ cho Anh ta. Tất nhiên, theo luật thì bất cứ ai bị án hơn 12 tháng sẽ không thoả mãn yêu cầu nhân cách, nhưng việc không mở ngoại lệ cho một người xin tị nạn vì án tích gây ra bởi vì hành vi đập đầu vào tường của anh ta làm nứt tường thì thật gây tranh cãi. Anh này khởi kiện ra Toà liên bang và Toà đã phản bác mạnh mẽ quyết định của Bộ trưởng, Toà cho rằng: • Hành vi của đương sự bắt nguồn từ tình trạng tâm thần suy sụp, không phải từ ác ý. • Bộ trưởng không cân nhắc báo cáo y khoa, xem nhẹ mối quan hệ cá nhân của anh tại Úc, và không đánh giá đúng nguy cơ tái phạm (rất thấp). Kết quả: Tòa huỷ quyết định. Vụ việc được yêu cầu xét lại theo đúng pháp luật và thực tế. 2. Mulombwa - [2025] FedCFamC2G 842 (5 June 2025) Ông Mulombwa, một công dân Congo, phạm tội tình dục năm 2007 vì hành vi tình dục với người dưới 16 tuổi, lãnh án 6 năm tù, và sau đó bị nhân viên di trú huỷ visa theo điều 501(2). Quyết định gây tranh cãi đầu tiên là đến năm 2020, ông được cấp lại visa nhờ quyền cá nhân của Bộ trưởng theo điều 195A của luật di trú. Điều 195A cho phép Bộ trưởng đích thân cấp visa cho người bị giam nếu thấy phù hợp với lợi ích công cộng, mà không cần đơn xin, không bị ràng buộc bởi nhiều quy định khác, và không có nghĩa vụ phải xét tới yêu cầu từ bất kỳ ai. Sau khi cấp, Bộ trưởng phải báo cáo trước Quốc hội nhưng bảo mật danh tính người được cấp. Cần nói rõ Bộ Nội vụ (và chính quyền Úc) lúc này đang thuộc về chính quyền tự do của thủ tướng Scott Morrison. Đến năm 2023, Visa của ông này một lần nữa bị huỷ theo điều 501(3) của luật di trú với lý do vì lợi ích quốc gia. Vấn đề là: ông có vợ và con là công dân Úc, sống ổn định, và từng được cho phép ở lại trước đó. Ông Mulombwa sau đó khởi kiện ra Toà liên bang và thành công. Tòa nhận định: • Bộ trưởng hoàn toàn không xét đến nghĩa vụ “non-refoulement” – tức nghĩa vụ không được trục xuất người có thể bị tra tấn hoặc đối xử tàn nhẫn khi hồi hương. • Quyền trẻ em – đặc biệt là quyền được sống với cha mẹ – bị xem nhẹ. Các con ông là công dân Úc, nhưng Bộ trưởng chỉ đề cập qua loa. Kết quả: Tòa huỷ quyết định vì lỗi thẩm quyền (jurisdictional error). 3. Xu và Wu Vì lí do tương tự của hai vụ án, người viết nghi ngờ Xu và Wu laf hai người Trung Quốc cùng liên quan đến một vụ án rửa tiền. Tuy nhiên, đơn khiếu nại của hai người cho ra hai kết quả hoàn toàn khác nhau. Điều này có thể được xem là bằng chứng về việc mỗi người đã chọn đúng hoặc chọn sai người đại diện; hoặc cũng có thể đánh giá đây đơn giản là tính may rủi trong quá trình tố tụng. a. Xu - [2025] FedCFamC2G 809 (2 June 2025) Ông Xu, một thường trú nhân người Trung Quốc, bị kết án hơn 3 năm tù vì nhập khẩu tiền giả. Visa ông bị huỷ theo điều 501(3) của luật di trú với lập luận đây là mối nguy cho cộng đồng và ảnh hưởng lợi ích quốc gia. Đơn khiếu nại củ Xu được Toà chấp nhận vì cho rằng bộ trưởng không hề đề cập đến nghĩa vụ quốc tế trong quyết định, trong khi có tài liệu trong hồ sơ cảnh báo ông Xu có thể bị tra tấn hoặc đối xử vô nhân đạo nếu bị trục xuất về Trung Quốc. Đây là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ quốc tế (non-refoulement) mà Úc đã cam kết theo Công ước CAT và ICCPR. Kết quả: Quyết định bị huỷ. Tòa yêu cầu xét lại theo đúng pháp luật quốc tế. b. Wu - [2025] FedCFamC2G 831 (4 June 2025) Ông Wu, cũng là người Trung Quốc, bị kết án 2 năm 3 tháng tù vì hành vi tương tự: nhập khẩu tiền giả (lưu ý là án tù của Wu còn nhẹ hơn của Xu). Visa của Wu bị huỷ theo điều 501(2) của luật di trú. Wu đệ đơn khiếu nại nhưng không thành công. Tòa đồng ý với Bộ trưởng và cho rằng Bộ trưởng đã làm đúng luật vì có cân nhắc quyền trẻ em, có xét đến hoàn cảnh gia đình và rủi ro, và có lý do xác đáng về mối nguy tái phạm và lợi ích cộng đồng. Kết quả: Quyết định của Bộ trưởng được giữ nguyên. Bức tranh lớn: Chuyện gì đang xảy ra? Diễn biến tuần rồi ở Toà liên bang cho thấy rằng: Tòa án vẫn đang theo dõi chặt chẽ quyền lực của Bộ trưởng, đặc biệt trong các trường hợp Bộ trưởng sử dụng quyền cá nhân (s 501(3)) để can thiệp trực tiếp. Nghĩa vụ quốc tế, nhân đạo, và quyền trẻ em không thể bị bỏ qua hoặc coi nhẹ Dù an ninh cộng đồng quan trọng, nhưng thủ tục xét xử phải công bằng, toàn diện và dựa trên chứng cứ đầy đủ. Bạn đọc có cho rằng Bộ trưởng đang làm đúng vai trò “bảo vệ cộng đồng”? Hay những quyết định này thực sự đã vượt ranh giới pháp lý và nhân đạo? 6/10/2025 0 Comments Lợi ích của mai thuýNgày 28/05/2025 vừa rồi, Tòa Liên bang Úc mới chấp thuận đơn khiếu nại của một người đàn ông gốc Việt trong vụ kiện chống lại Bộ Di trú, liên quan đến việc Bộ từ chối đơn xin visa bảo hộ (protection visa) sau khi ông này bị huỷ visa thường trú vì tiền án tiền sự. DIS24 v Minister for Immigration, Citizenship & Multicultural Affairs [2025] FedCFamC2G 775 là vụ án của một người đàn ông gốc Việt, ông này đến Úc năm 1985 theo diện nhân đạo đặc biệt cho người Việt Nam sau chiến tranh. Năm 2020, visa thường trú của ông bị huỷ do có tiền án liên quan đến sử dụng ma tuý (có lẽ là huỷ theo điều 501 của Migration Act 1958). Ông này có xin khôi phục visa nhưng không thành công. Thông thường, điều 501E của luật di trú cấm người bị huỷ visa theo điều 501 nộp đơn xin visa mới khi đang ở Úc, ngoại trừ xin visa protection. Ông này sau đó nộp đơn xin protection visa vào tháng 2/2021 với lý do nếu bị trục xuất về Việt Nam, ông có nguy cơ bị đưa vào trại cai nghiện bắt buộc và không được tiếp cận chương trình methadone, một chương trình điều trị mà ông này đang phụ thuộc để kiểm soát cơn nghiện. Bộ Nội vụ đã bác đơn xin bảo hộ của ông này và sau đó đơn khiếu nại của ông cũng bị AAT bác nốt. AAT cho rằng nguy cơ ông nói chỉ là "có thể xảy ra", nhưng không chắc chắn, và rằng Việt Nam vẫn có hệ thống y tế đủ để hỗ trợ ông. Theo nguồn tin chưa kiểm chứng thì, ở Việt Nam, chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone đã được triển khai từ năm 2008, ban đầu thí điểm tại Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh, sau đó mở rộng trên toàn quốc. Tính đến năm 2023, đã có hơn 55.000 người tham gia chương trình tại hơn 330 cơ sở điều trị. Methadone là thuốc điều trị thay thế, dùng để kiểm soát triệu chứng cai nghiện heroin, giúp người bệnh ổn định cuộc sống, giảm nguy cơ lây HIV và tái phạm. Chương trình này thuộc quản lý của Bộ Y tế và thường kết hợp với các trung tâm y tế cấp huyện/quận. Tuy nhiên, người mới về nước hoặc không có hộ khẩu tại địa phương thường gặp khó khăn trong việc đăng ký tham gia chương trình này. Đây chính là một trong những điểm mà đương đơn trong vụ kiện DIS24 đã nêu lên, và được Tòa chấp nhận là đáng cân nhắc. Tòa Liên bang do đó phán quyết rằng việc Tòa AAT từ chối đơn xin của ông là sai pháp luật. AAT đã áp dụng sai tiêu chuẩn pháp lý khi yêu cầu mức độ rủi ro quá cao và không xem xét đúng các bằng chứng liên quan đến khả năng tiếp cận methadone của người bị trục xuất. Theo đó, phán quyết cũ của AAT bị huỷ bỏ, hồ sơ sẽ lại được trả về Tribunal (bây giờ là ART) để xét lại cho đúng luật. Đọc xong án lệnh này thì người viết chiêm nghiệm ra một điều, đó là đến nghiện ma tuý mà cũng có khi hữu dụng quá xá cà sa… chứ không nghiện thì Việt Nam thẳng tiến rồi còn đâu? Trong luật di trú Úc, cụm từ lí do thuyết phục (compelling reasons) thường xuất hiện khi đánh giá xem người nộp đơn có được miễn một số điều kiện pháp lý ngặt nghèo hay không, chẳng hạn như khi xin miễn điều kiện 8503 (“no further stay”) hoặc các điều khoản trong khoảng 3 đối với visa người ở lậu. Tuy nhiên, lí do thuyết phục không phải là khái niệm có định nghĩa rõ ràng trong luật – thay vào đó, nó được hình thành và làm rõ dần qua thực tiễn xét xử. Bài viết này tổng hợp các án lệ quan trọng theo từng nhóm hồ sơ để làm rõ khi nào thì một lý do có thể được xem là “thuyết phục”. I. MIỄN ĐIỀU KIỆN 8503 ("NO FURTHER STAY") 1. Anani v MIMAC [2013] FCCA 1140 Anani kết hôn với công dân Úc và xin miễn 8503 hai lần với lý do vợ mang thai và phụ thuộc tài chính. Cả hai lần đều bị từ chối. Tòa án xác định rằng việc kết hôn và mang thai là hệ quả tự nhiên của một mối quan hệ và không nhất thiết là ngoài tầm kiểm soát, dù có yếu tố nhân đạo nhưng không đủ mạnh để trở thành "compelling". 2. Schaap v MIMA [2000] FCA 1408 Bà Schaap rơi vào trầm cảm sau khi đến Úc do cái chết của chồng. Bộ từ chối miễn vì cho rằng tình trạng này có thể lường trước. Tòa bác bỏ lập luận đó, khẳng định luật không đòi hỏi tính “không thể lường trước”. Đây là án lệ quan trọng làm rõ rằng "compelling and compassionate" không cần yếu tố bất ngờ. 3. Thongpraphai v MIMA [2000] FCA 1590 Người nộp đơn viện dẫn lý do “không hiểu điều kiện 8503”. Tòa xác định rằng sự không hiểu không phải là tình huống mới phát sinh và không thể là lý do thuyết phục. Án này củng cố nguyên tắc rằng chỉ hoàn cảnh mới phát sinh sau khi visa được cấp mới có thể xét đến. 4. Terera v MIMIA [2003] FCA 1570 Tòa xác định Bộ đã sai khi chỉ xét hoàn cảnh của mẹ đứa trẻ thay vì chính đứa trẻ. Việc đánh giá “compelling” phải nhắm đúng chủ thể. Cũng như trong Schaap, Tòa bác bỏ khái niệm “foreseeability” như một điều kiện bắt buộc. II. MIỄN Khoản 3 – HỒ SƠ BẠN ĐỜI Ở LẬU 1. McNamara v MIMIA [2004] FCA 1096 Bà McNamara nộp visa bạn đời trễ hơn 1 năm sau khi hết hạn visa cũ. Mặc dù có con nhỏ, bị bạo hành, và khó khăn tài chính, Tòa xác định rằng việc có “lý do thuyết phục” là đánh giá chủ quan của người quyết định. Không có tiêu chuẩn pháp lý cố định nào, và Tòa sẽ không can thiệp nếu không có sai sót thẩm quyền. 2. Liu v Minister [2015] FCA 1368 Mặc dù ông Liu từng được miễn 8503, ông không được miễn Schedule 3 khi nộp visa bạn đời mới vì mối quan hệ đã tan vỡ và không có bằng chứng bạo hành. Tòa xác định việc miễn 8503 trước đó không đương nhiên chuyển thành lý do thuyết phục để miễn Schedule 3. 3. Al Souhmarani v Minister [2016] FCCA 2866 Đương đơn bị từ chối miễn Schedule 3 vì không có bằng chứng rằng việc rời Úc sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng dù ông lấy lí do 2 lần mỗi quan hệ đổ vỡ. Tòa nhấn mạnh rằng mục tiêu của điều khoản miễn trừ là để tránh gây khó khăn quá mức nếu phải rời Úc, không phải để “thưởng” cho những mối quan hệ thất bại. 4. Monakova v MIMA [2006] FMCA 849 Bà Monakova đang giữ bridging visa diện khác khi xin visa vợ chồng, bị MRT từ chối vì cho rằng bà không bị chia cắt. Tòa xác định rằng MRT xét sai mục tiêu: lý do miễn phải gắn với mục tiêu của Schedule 3 – tức cho phép nộp visa từ trong nước – chứ không phải xét việc có bridging visa hay không. III. VISA NHÂN ĐẠO VÀ VISA KHÁC 1. Plaintiff M64/2015 v Minister [2015] HCA 50 Vụ này liên quan đến visa Subclass 202 theo diện nhân đạo (SHP). Tòa Tối cao xác nhận rằng việc đánh giá “compelling reasons” để cấp visa có thể bao gồm cả các yếu tố chính sách, hạn ngạch, và năng lực định cư của nước Úc. Sự thuyết phục không chỉ đến từ yếu tố nhân đạo cá nhân mà còn từ bối cảnh chính sách toàn diện. 2. Paduano v MIMIA [2005] FCA 211 Ông Paduano bị từ chối visa hồi hương (Resident Return Visa) vì đã ở ngoài Úc hơn 5 năm. Tribunal yêu cầu lý do bất khả kháng, nhưng Tòa xác định rằng “compelling” có thể là các lý do đạo đức, văn hóa, hoặc gia đình có sức thuyết phục – không cần phải là bất khả kháng. Đây là án lệ mở rộng ý nghĩa của “compelling reasons” sang cả khía cạnh tình cảm và văn hóa. KẾT LUẬN Từ các án lệ trên, có thể rút ra một số nguyên tắc quan trọng khi đánh giá lí do thuyết phục: 1. Không có tiêu chuẩn pháp lý cố định – “Compelling” là khái niệm chủ quan, phụ thuộc vào nhận định của người xét duyệt. 2. Không đòi hỏi phải là hoàn cảnh bất khả kháng – Có thể bao gồm yếu tố nhân đạo, đạo đức, văn hóa, hoặc khó khăn thực tế. 3. Phải liên quan đến mục tiêu pháp lý cụ thể – Lý do miễn phải phù hợp với mục đích của điều khoản bị miễn (ví dụ: miễn Schedule 3 phải liên quan đến lý do không nên rời Úc để nộp visa). 4. Không được xét sai chủ thể – Như trong Terera, lý do phải đánh giá từ hoàn cảnh của đương đơn, không phải của người thân hay người bảo lãnh. 5. Không được áp dụng máy móc các hướng dẫn nội bộ Trong chuyên môn của mình, ít điều luật nào khiến tôi bất an như luật huỷ quốc tịch Úc. Tôi từng nghĩ – và chắc nhiều người cũng vậy – rằng: “Đã nhập tịch rồi thì coi như an toàn, không ai động tới được nữa.” Nhưng thực tế không đơn giản như vậy. Theo luật hiện hành, quốc tịch Úc vẫn có thể bị tước bỏ, trong 3 trường hợp sau: 1. Khai gian hoặc phạm tội khi xin quốc tịch Dù đã nhập tịch nhiều năm, nếu bị phát hiện khai gian, dùng giấy tờ giả, hoặc từng phạm tội nghiêm trọng trước khi nhập tịch, quốc tịch vẫn có thể bị thu hồi. 2. Không sống ở Úc sau khi được "ưu tiên" nhập tịch Ví dụ: con của công dân Úc sinh ở nước ngoài, được miễn điều kiện cư trú khi nhập tịch. Nếu sau đó không thực sự về sống ở Úc, vẫn có nguy cơ bị tước quốc tịch. 3. Phản bội giá trị nước Úc Nếu bị kết án vì khủng bố, phản quốc, gián điệp… và toà án xác định hành vi đó là từ bỏ lòng trung thành với nước Úc, tòa có thể ra lệnh chấm dứt quốc tịch. CÓ NÊN TỪ BỎ QUỐC TỊCH VIỆT NAM? Đây là một câu hỏi lớn với người Việt sau khi nhập tịch Úc. Giữ song tịch nghe có vẻ "an toàn cả đôi đường" cho phép bạn hưởng lợi ích công dân của cả hai quốc gia. Nhưng nếu bạn gặp một trong ba rắc rối pháp lý nói trên, và vẫn còn quốc tịch Việt Nam, thì Úc có thể tước quốc tịch của bạn mà không vi phạm luật quốc tế, vì bạn không trở thành người không có quốc tịch. Ngược lại, nếu bạn đã từ bỏ quốc tịch Việt Nam, thì Úc không thể tước quốc tịch của bạn, vì việc đó khiến bạn thành stateless (người không có quốc tịch). Đây trở thành là tấm khiên bảo vệ không thể công phá, đảm bảo rằng bạn không bao giờ mất quốc tịch Úc. 6/10/2025 0 Comments Từ Tribunal đến Courts1. Nguyen and Minister for Immigration [2025] ARTA 537 (8 May 2025) Đây là đơn khiếu nại của bà Nguyen Thi Kim Roi về việc Bộ Nội vụ từ chối đơn xin visa Contributory Parent của chồng bà – ông Chu Xuan Thang. Điều đáng chú ý là hồ sơ được nộp không phải diện vợ chồng (partner) mà là diện cha mẹ (parent), có vẻ như bà Nguyễn đại diện cho các con còn dưới 18 tuổi. Đơn xin visa bị từ chối do ông Chu có nhiều tiền án nhỏ ở Úc trong quá khứ, chủ yếu liên quan đến nhiều lần lái xe không bằng lái. Ông cũng từng ở lậu tại Úc. Hiện tại, ông có hai con nhỏ là công dân Úc, đang sống với bà ngoại tại Tây Úc. Bộ Nội vụ từ chối visa theo s 501(1) vì cho rằng ông không đạt tiêu chuẩn nhân thân (character test). Ông đệ đơn ra Tribunal xin phúc thẩm và đề nghị xem xét lại việc từ chối, với lập luận rằng hai con của ông rất cần sự hiện diện của cha. Sau khi cân nhắc, Tribunal chấp nhận thu hồi quyết định từ chối visa, nhấn mạnh rằng lợi ích và phúc lợi của trẻ em phải được đặt lên hàng đầu, vượt qua cả quá khứ phạm pháp đã không còn tái diễn của ông Chu. 2. EEF16 v Minister [2025] FedCFamC2G 645 (7 May 2025) Vụ án liên quan đến một người đàn ông từng khai man danh tính khi xin visa bảo hộ và bị hủy visa theo s 109 (cung cấp thông tin sai lệch). Ông có một con trai là công dân Úc. Sau đó, ông nộp đơn xin xét lại quyết định hủy visa tại Tribunal, nhưng không thành công. Tribunal giữ nguyên quyết định hủy. Ông tiếp tục khởi kiện ra Tòa Liên bang, cho rằng Tribunal đã không xem xét đầy đủ quyền lợi của con ông, vốn là công dân Úc. Tòa Liên bang đồng ý và cho rằng Tribunal đã mắc lỗi pháp lý nghiêm trọng (jurisdictional error) khi không coi quyền lợi của trẻ em là “mối quan tâm chính”, dù có nhắc đến yếu tố này một cách "qua loa". Kết quả là phán quyết của Tribunal bị hủy, vụ việc được trả về để xét xử lại cho đúng pháp luật. 3. Plaintiff M19A/2024 v Minister [2025] HCA 17 (10 April 2025) Vụ việc liên quan đến một người giữ visa bảo hộ (protection) bị hủy visa vì Bộ Nội vụ cho rằng mình không thể xác định được danh tính của đương đơn theo điều 116(1AA). Cụ thể, sau khi cấp visa cho đương đơn, Bộ Nội vụ nhận được thông tin khiến họ nghi ngờ danh tính thật sự của đương đơn không đúng như khai báo. Bộ Nội vụ gửi thông báo ý định hủy visa (NOICC) mời đương đơn giải trình nhưng không nhận được thư phản hồi. Bộ Nội vụ cho rằng sự im lặng này là một tình tiết bất lợi trong việc cân nhắc có nên hủy visa hay không. Luật sư của đương đơn lập luận rằng việc Bộ Nội vụ coi sự im lặng là yếu tố chống lại đương đơn là sai luật, vì pháp luật không bắt buộc phải phản hồi NOICC. Tòa Tối cao đồng ý với luận điểm của đương đơn, tuyên bố rằng Bộ Nội vụ không có quyền suy diễn bất lợi từ việc không trả lời thư. Vì visa của vợ và con đương đơn cũng bị hủy theo visa chính, Tòa ra lệnh khôi phục toàn bộ visa cho cả gia đình. |
AuthorTrương Như Bảo Archives
June 2026
Categories |
RSS Feed